Kinh tam lăng, tên khoa học Scirpus yagara Ohwi, vì cỏ gấu khoa cây cói thuộc cây lâu năm thủy sinh thực vật thân thảo, lấy khô ráo thân củ làm thuốc, là trung y lâm sàng thường dùng phá huyết tiêu tích dược, cùng bồng nga thuật cũng xưng “Phá ứ song hùng”. Này dược dùng lịch sử nhưng ngược dòng đến 《 thảo mộc nhặt của rơi 》, lịch đại thầy thuốc đối này “Công kiên phá kết” chi hiệu nhiều có tôn sùng, hiện đại nghiên cứu cũng công bố này phong phú hoạt tính thành phần cùng lộ rõ dược lý tác dụng. Dưới từ thực vật học đặc tính, dược dùng giá trị, thành phần nghiên cứu, ứng dụng lĩnh vực cập những việc cần chú ý chờ phương diện, đối kinh tam lăng tiến hành toàn diện giới thiệu.
Một, thực vật học đặc tính cùng phân bố
Kinh tam lăng vì cây lâu năm thủy sinh thân thảo, cây cao có thể đạt tới 1-1.5 mễ. Rễ cây phủ phục, tiết thượng sinh rễ chùm, đỉnh to ra thành thân củ, thân củ trình đảo hình nón hình, trường 2-4 centimet, đường kính 1.5-3 centimet, mặt ngoài màu vàng xám hoặc nâu đen sắc, có dày đặc tiểu đột khởi, đỉnh có còn sót lại hành cơ, chất kiên cố, tiết diện hoàng màu trắng hoặc màu xám trắng, phấn tính, khí hơi, vị đạm. Cán cao lớn, thô tráng, tam lăng hình, bóng loáng vô mao, cơ bộ cụ 2-3 cái đọt, vỏ màng chất, màu nâu, đỉnh vô phiến lá.
Diệp sinh với cán thượng bộ, đường nét, trường 20-40 centimet, khoan 5-10 mm, đỉnh tiệm tiêm, cơ bộ vỏ trạng ôm hành. Hoa tự đỉnh sinh, vì đơn giản trường cành cụm hoa tụ tán, cụ 3-8 cái phóng xạ chi, phóng xạ chi trường có thể đạt tới 10 centimet; tiểu tuệ trứng hình hoặc bầu dục hình, trường 10-18 mm, khoan 5-8 mm, cụ đa số hoa; vảy trứng hình, dài chừng 5 mm, màng chất, màu nâu, đỉnh cụ đoản tiêm; hoa kỳ 6-7 nguyệt, quả kỳ 7-8 nguyệt.
Kinh tam lăng nguyên sản với Trung Quốc, hỉ sinh với thủy ướt hoàn cảnh, đa phần bố với ao hồ, đầm lầy, lạch ngòi cập ruộng nước biên, ở quốc gia của ta chủ yếu sản với Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, nội Mông Cổ, Hà Bắc, Sơn Tây, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang, Phúc Kiến các nơi, Nga, Triều Tiên, Nhật Bản cũng có phần bố. Này đối hơi nước nhu cầu so cao, thích hợp sinh trưởng ở thủy thâm 10-30 centimet nước cạn khu, thổ nhưỡng lấy giàu có chất hữu cơ nước bùn hoặc đầm lầy thổ vì giai, chịu rét tính cường, có thể ở -20℃ nhiệt độ thấp hạ qua đông.
Nhị, truyền thống dược dùng giá trị
Kinh tam lăng ở truyền thống trung y trung ứng dụng rộng khắp, này vị tân, khổ, tính bình, về gan, tì kinh, có phá huyết hành khí, tiêu tích giảm đau công hiệu, lâm sàng chủ yếu dùng cho dưới chứng bệnh:
1. Chứng hà tích tụ, ứ huyết tắc kinh: Kinh tam lăng tân tán khổ tiết, có thể phá huyết trung chi khí, khéo công kiên phá kết, thiện trị huyết ứ khí trệ gây ra chứng hà báng, tắc kinh đau bụng. Như 《 chứng trị thước đo 》 trung tam lăng chiên, lấy kinh tam lăng cùng bồng nga thuật pha thuốc, thêm dấm ngao cao, trị phụ nhân huyết chứng, đầy bụng đàm trệ; 《 Kim Quỹ Yếu Lược 》 trung dù chưa nói rõ, nhưng đời sau thầy thuốc thường dùng này cùng đương quy, hoa hồng cùng cấp dùng, trị ứ huyết tắc kinh, thiếu bụng kiên đau.
2. Đầy bụng trướng đau, quản bụng bĩ mãn: Này có thể hành hết giận tích, đối với ẩm thực tích trệ, quản bụng trướng đau, thường cùng vô lại, mạch nha, thần khúc cùng cấp dùng, như 《 nho môn sự thân 》 trung tam lăng hoàn, lấy kinh tam lăng cùng khiên ngưu tử, đại hoàng pha thuốc, trị đầy bụng không hóa, quản bụng bĩ ngạnh.
3. Bị thương, ứ sưng đau đớn: Kinh tam lăng có thể phá huyết tán ứ, tiêu sưng giảm đau, trị bị thương, ứ sưng tấy đau, nhưng đơn dùng chà điều rượu đắp, hoặc cùng đào nhân, hoa hồng, nhũ hương chờ pha thuốc, như 《 thương khoa hối toản 》 trung tam lăng tán, tăng cường lưu thông máu tiêu sưng chi hiệu.
4. Sang dương sưng độc, lỗi lịch đàm hạch: Dân gian thường dùng kinh tam lăng ngoại dụng trị sang dương sưng độc, lấy này phá ứ tiêu sưng chi hiệu; đối với đàm ứ lẫn nhau kết gây ra lỗi lịch đàm hạch, nhưng cùng rong biển, Côn bố, chiết cây bối mẫu cùng cấp dùng, mềm kiên tán kết.
Tam, hiện đại thành phần cùng dược lý nghiên cứu
Hiện đại dược lý học nghiên cứu cho thấy, kinh tam lăng chủ yếu hoạt tính thành phần vì dầu bốc hơi loại ( như benzen etanol, fu-ran andehit chờ ), hoàng Ketone loại, tai thể loại, hữu cơ toan cập nhiều đường chờ, này đó thành phần giao cho này đa dạng dược lý tác dụng:
1. Kháng ngưng huyết cùng kháng tắc động mạch tác dụng: Kinh tam lăng lấy ra vật có thể ức chế tiểu cầu tụ tập, hạ thấp máu dính độ đặc, kéo dài ngưng huyết thời gian, đối tắc động mạch hình thành có lộ rõ ức chế tác dụng, này cơ chế khả năng cùng ức chế chất làm đông máu hoạt tính, điều tiết ngưng huyết ước số có quan hệ, đối tâm não huyết quản bệnh tật có nhất định phòng chống tác dụng.
2. Đối hệ tiêu hoá tác dụng: Kinh tam lăng thủy chiên dịch có thể xúc tiến dạ dày tràng mấp máy, gia tăng tiêu hóa dịch phân bố, cải thiện tiêu hóa công năng, đối loét dạ dày có bảo hộ tác dụng, nhưng ức chế vị toan phân bố, giảm bớt dạ dày niêm mạc tổn thương; này dầu bốc hơi thành phần có thể xúc tiến mật phân bố, có trợ giúp can đảm ướt nóng biến mất.
3. Kháng u tác dụng: Kinh tam lăng trung dầu bốc hơi cập nhiều đường thành phần đối nhiều loại u tế bào ( như ung thư gan, dạ dày ung thư, ung thư phổi chờ ) có ức chế tác dụng, nhưng hướng dẫn u tế bào điêu vong, ức chế u tế bào mọc thêm cùng xâm nhập, này cơ chế khả năng cùng điều tiết tế bào chu kỳ, chặn u mạch máu sinh thành có quan hệ.
4. Kháng viêm cùng trấn đau tác dụng: Kinh tam lăng lấy ra vật có lộ rõ kháng viêm tác dụng, có thể ức chế chứng viêm chất môi giới ( như trước liệt tuyến tố E₂, u hoại tử ước số -α ) phóng thích, giảm bớt chứng viêm phản ứng; này thủy chiên dịch rót dạ dày đối đau đớn mô hình động vật có nhất định trấn đau hiệu quả, đối mạn tính đau đớn cập chứng viêm tính đau đớn đều có giảm bớt tác dụng.
5. Đối tử cung tác dụng: Kinh tam lăng chiên tề đối ly thể tử cung có hưng phấn tác dụng, có thể tăng cường tử cung co rút lại lực, xúc tiến ứ huyết bài xuất, này vì này trị liệu hậu sản ứ trệ, tắc kinh đau bụng cung cấp thực nghiệm căn cứ.
Bốn, bào chế cùng ứng dụng
1. Bào chế phương pháp: Kinh tam lăng làm thuốc nhiều kinh bào chế, thường dùng phương pháp có:
- sinh tam lăng: Lấy nguyên dược liệu, trừ bỏ tạp chất, lớn nhỏ tách ra, ngâm đến ba bốn thành thấu, vớt ra, nhuận thấu, thiết lát cắt, khô ráo, si đi mảnh vụn, sinh dùng phá huyết hành khí chi lực so cường, đa dụng với ứ huyết trọng chứng.
- dấm tam lăng: Lấy tam lăng phiến, thêm dấm gạo quấy đều, buồn thấu, trí trong nồi, dùng lửa nhỏ đun nóng xào làm, lấy ra phóng lạnh ( mỗi 100kg tam lăng phiến, dùng dấm gạo 20kg ), dấm chế sau có thể tăng cường này nhập gan tiêu tích, giảm đau tác dụng, đa dụng với đầy bụng trướng đau, tắc kinh đau bụng.
2. Dược dùng cách dùng: Kinh tam lăng nhưng nhập canh tề, dùng lượng giống nhau vì 5-10 khắc; cũng có thể nhập hoàn, thuốc tán. Ngoại dụng số lượng vừa phải, chà điều đắp hoặc chiên thủy tẩy chỗ đau.
3. Pha thuốc ứng dụng: Kinh tam lăng thường cùng mặt khác dược vật pha thuốc lấy tăng cường hiệu quả trị liệu, như cùng bồng nga thuật pha thuốc ( tức “Nga lăng tán” ), hai người tương cần vì dùng, phá huyết hành khí, tiêu tích giảm đau chi lực tăng gấp bội, thiện trị chứng hà báng; cùng vô lại pha thuốc, hành hết giận tích, trị đầy bụng trướng đau; cùng đương quy pha thuốc, lưu thông máu điều kinh, trị ứ huyết tắc kinh.
Năm, ứng dụng lĩnh vực
1. Y dược lĩnh vực: Kinh tam lăng là nhiều loại trung thành dược quan trọng thành phần, như “Tam lăng hoàn” dùng cho đầy bụng không hóa, quản bụng bĩ mãn; “Lưu thông máu giảm đau bao con nhộng” dùng cho bị thương, ứ sưng tấy đau; “Cung nhọt ninh phiến” dùng cho u xơ tử cung thuộc khí trệ huyết ứ chứng giả.
2. Nông nghiệp lĩnh vực: Kinh tam lăng thân củ giàu có tinh bột, nhưng làm thức ăn chăn nuôi chất phụ gia; này cán diệp nhưng dùng cho tạo giấy hoặc bện, có nhất định kinh tế giá trị.
3. Sinh thái lĩnh vực: Kinh tam lăng làm thủy sinh thực vật, có thể tinh lọc thủy thể, hấp thu trong nước nitro, lân chờ nguyên tố, thường dùng với ướt mà sinh thái chữa trị, đồng thời vì thuỷ điểu chờ cung cấp sống ở nơi.
Sáu, những việc cần chú ý cùng cấm kỵ
1. Tính vị cấm kỵ: Kinh tam lăng phá huyết chi lực so cường, phàm khí huyết hai hư, vô khí trệ huyết ứ giả kỵ dùng; thai phụ cấm dùng, để tránh khiến cho sinh non.
2. Pha thuốc cấm kỵ: Truyền thống y học cho rằng kinh tam lăng không nên cùng nha tiêu cùng dùng ( “Mười chín sợ” ghi lại ), hiện đại nghiên cứu dù chưa minh xác này cấm kỵ cơ chế, nhưng lâm sàng ứng dụng vẫn cần cẩn thận.
3. Bất lương phản ứng: Kinh tam lăng thường quy dùng lượng hạ bất lương phản ứng ít, nhưng đại liều thuốc sử dụng khả năng khiến cho dạ dày tràng đạo không khoẻ ( như ghê tởm, nôn mửa, đi tả ); bộ phận người khả năng đối này dị ứng, xuất hiện làn da ngứa, chứng phát ban chờ bệnh trạng, cần lập tức đình dùng.
4. Chất lượng phân biệt: Chất lượng tốt kinh tam lăng trình loại hình tròn lát cắt, mặt ngoài màu vàng xám hoặc màu nâu nhạt, có dày đặc tiểu đột khởi, mặt cắt hoàng màu trắng hoặc màu xám trắng, phấn tính, nội vỏ hoàn rõ ràng, khí hơi, vị đạm. Ứng tránh cho sử dụng mốc biến, trùng chú hoặc trộn lẫn dược liệu.
Bảy, nghiên cứu tiến triển cùng tiền cảnh
Năm gần đây, kinh tam lăng kháng u tác dụng trở thành nghiên cứu nhiệt điểm, đặc biệt là này dầu bốc hơi thành phần lấy ra thuần hóa cùng tác dụng cơ chế nghiên cứu, vì kháng u dược vật nghiên cứu phát minh cung cấp phương hướng. Ngoài ra, kinh tam lăng ở kháng tắc động mạch, kháng viêm cập điều tiết dạ dày tràng công năng chờ lĩnh vực nghiên cứu cũng ở từng bước thâm nhập, này bào chế công nghệ ưu hoá ( như dấm chế đối dược hiệu ảnh hưởng ) là trung dược hiện đại hoá nghiên cứu quan trọng nội dung.
Tổng thượng sở thuật, kinh tam lăng làm một loại kiêm cụ dược dùng cùng sinh thái giá trị thực vật, này truyền thống công hiệu ở hiện đại nghiên cứu trung được đến khoa học nghiệm chứng, hoạt tính thành phần đa dạng dược lý tác dụng vì này rộng khắp ứng dụng đặt cơ sở. Theo nghiên cứu thâm nhập, kinh tam lăng tiềm lực đem được đến tiến thêm một bước khai quật, vì nhân loại khỏe mạnh cùng sinh thái bảo hộ cống hiến càng nhiều giá trị.
Kinh tam lăng tu hành giai đoạn cùng thần thông tường giải
Mười năm sinh · duệ lăng kỳ
Lúc này kinh tam lăng thượng là bờ ruộng biên tầm thường linh thảo, thân củ như ngón út phẩm chất, da bọc màu cọ nâu lá mỏng, đỉnh rút ra tam lăng hình thanh hành, hành thượng sinh nhỏ vụn hình kim to bản đầu nhọn phiến lá, giấu giếm cực tế duệ lăng. Này nhất lộ rõ công hiệu là “Phá ứ” —— đem thân củ phá đi sau cùng rượu vàng điều hòa, đắp ở ngã đánh ứ thanh chỗ, nửa canh giờ liền có thể làm tím đen máu bầm tiêu tán, nhân hành trung đựng “Lăng tinh tố” có thể nhanh chóng tan rã dưới da tích huyết. Nông hộ thường đem này loại ở ruộng nước biên, bộ rễ có thể đâm thủng đáy nước nước bùn, làm nước lặng biến sống, sử mẫu sản tăng thu nhập tam thành, cố có “Bờ ruộng phu quét đường” chi xưng.
Trăm năm sinh · kiên giáp kỳ
Trăm năm kinh tam lăng thân củ đã dài đến như nắm tay lớn nhỏ, mặt ngoài nhô lên ba đạo cứng rắn lăng sống, lăng mũi lợi như đao, tiết diện trình hoàng màu trắng, dày đặc tế khổng, có thể hấp thụ trong nước đục vật. Lúc này nó kiêm cụ “Hóa đục” cùng “Cố đê” khả năng: Đem thân củ nấu thủy, ngã vào vẩn đục lu nước, nửa canh giờ liền có thể làm bùn sa trầm hàng, thủy sắc làm sáng tỏ; nếu đem này bộ rễ chôn nhập đê, ba ngày nội liền sẽ sinh ra tinh mịn rễ chùm internet, chặt chẽ khóa chặt đê thổ, chống đỡ hồng thủy cọ rửa, mặc dù là mưa to thời tiết, cũng có thể làm đê thiếu sụp xuống tam thành. Các ngư dân sẽ đem này lăng sống mài giũa thành giản dị cá câu, này độ cứng có thể so với tinh thiết, câu lên trăm cân cá lớn cũng không dễ cong chiết.
Ngàn năm sinh · hóa thú kỳ
Ngàn năm chi dạ, kinh tam lăng sẽ mượn nguyệt hoa vì dẫn, lột đi thực vật hình thái, hóa thành một đầu “Lăng giáp thú” —— giống nhau cá sấu khổng lồ, thân phúc tam lăng hình thanh hắc sắc lân giáp, mỗi phiến lân giáp lăng sống đều lập loè hàn mang, đuôi bộ như tam hình chóp bén nhọn. Lúc này nó “Phá chướng” chi lực tăng nhiều: Lân giáp chạm vào nhau có thể phát ra réo rắt minh vang, nhưng chấn vỡ tà ám ảo giác; đuôi tiêm đảo qua, liền có thể bổ ra trượng hứa hậu vách đá, thường bị người miền núi coi là “Mở đường thần”. Càng thần kỳ chính là, nó nước bọt nhỏ giọt chỗ, có thể làm tắc nghẽn đường sông tự hành khơi thông, làm làm cho cứng thổ địa trở nên tơi, thậm chí có thể hóa giải trăm năm mồ mả tổ tiên trung ứ khí, sử chung quanh cỏ cây trọng hoán sinh cơ.
Vạn năm sinh · hóa người kỳ
Vạn năm kinh tam lăng rút đi hình thú, hóa thân vì người mặc thanh hắc sắc kính trang nam tử, giữa mày có ba đạo hình thoi ấn ký, đầu ngón tay có thể ngưng kết ra tam lăng hình khí nhận. Lúc này hắn khống chế “Xé trời” cùng “Trọng tố” khả năng: Huy chỉ vẽ ra khí nhận nhưng bổ ra không gian hàng rào, làm người nháy mắt xuyên qua với ngàn dặm ở ngoài; nếu đem khí nhận rót vào đá cứng, có thể ấn tâm ý tạo hình ra đồ vật, thả thành phẩm tự mang “Trừ tà” hiệu quả, yêu tà gần người tức sẽ bị lăng khí bỏng rát. Hắn máu tích nhập hoang mạc, nhưng làm không có một ngọn cỏ nơi mọc ra ốc đảo; đem này móng tay nghiền nát lẫn vào đan dược, có thể bài trừ tu sĩ trong cơ thể “Đan độc tắc nghẽn”, trợ tạp ở bình cảnh người tu hành đột phá cảnh giới.
Mười vạn năm sinh · thành thần kỳ
Mười vạn năm kinh tam lăng đã chứng đến “Lăng thần” chi vị, thân hình thường bao phủ ở thanh kim sắc lăng quang trung, ba đạo lăng ấn hóa thành huyền phù với đỉnh đầu thần văn. Lúc này hắn lực lượng thẳng chỉ pháp tắc mặt: Khẽ quát một tiếng, nhưng làm hỗn loạn thiên địa khí cơ quay về trật tự, hóa giải nhân linh khí tắc nghẽn dẫn phát thiên tai; phất tay gian có thể ở trên hư không vẽ ra “Tam lăng biên giới”, giới nội hết thảy tắc nghẽn, chướng ngại toàn sẽ bị lăng quang cắn nát, vô luận là tu sĩ chấp niệm tâm ma, vẫn là đồ vật vết rách tỳ vết, đều có thể bị hoàn toàn gột rửa. Truyền thuyết hắn từng lấy lăng thần chi lực bổ ra “Hỗn độn ứ lưu”, làm vũ trụ mới sinh linh khí có thể thông thuận lưu chuyển, cố bị tôn vì “Khai đạo chi thần”, tín đồ lấy tam lăng hình ngọc bội vì tín vật, kỳ nguyện nhân sinh con đường vô trệ không ngại.
Từ bờ ruộng gian phá ứ linh thảo, đến chấp chưởng thiên địa thông trệ pháp tắc thần minh, kinh tam lăng mỗi một lần lột xác, đều đem “Phá chướng” cùng “Khơi thông” áo nghĩa đẩy hướng cực hạn, trở thành muôn vàn sinh linh trong mắt bổ ra khốn đốn, dẫn hướng đường bằng phẳng tượng trưng.
Kinh tam lăng tu chân danh hào khảo
Mười năm sinh · lăng mầm tử
Lúc này kinh tam lăng mới từ bùn đất trung ló đầu ra, tam lăng hình hành cán nộn đến có thể véo ra thủy, thân củ như đậu viên lớn nhỏ, giấu ở thiển lớp đất bề mặt tầng. Nông hộ nhóm thấy nó nhòn nhọn mầm tiêm tổng ái đỉnh phá hòn đá, liền diễn xưng nó “Lăng mầm tử” —— đã điểm ra này hình thái, lại mang theo vài phần thương tiếc. Danh hào này cất giấu bùn đất hơi thở, tựa như nhà bên tổng ái để tâm vào chuyện vụn vặt choai choai hài tử, mang theo cổ không quan tâm mạnh dạn đi đầu, chẳng sợ đỉnh đến mầm tiêm phát sưng, cũng muốn từ khe đá chui ra lục tới.
Trăm năm sinh · phá ứ quân
Trăm năm kinh tam lăng đã dài đến hành thô như chỉ, thân củ nắm tay lớn nhỏ, da ngưng tầng nâu thẫm ngạnh xác, tam lăng sống thượng phiếm kim loại lãnh quang. Nó sinh trưởng ruộng nước biên, phàm là có tắc nghẽn mương máng, kinh nó bộ rễ một xuyên, chuẩn có thể thông khai; nông hộ gia lu nước tích cấu, thiết một tiểu khối thân củ ném vào đi, vẩn đục thủy nửa ngày liền thanh. Thôn người cảm thấy nó thông ứ bản lĩnh so lang trung phương thuốc còn linh, liền kính xưng “Phá ứ quân”. Danh hào này thiếu tính trẻ con, nhiều vài phần công tín lực, tựa như trong thôn vị kia chuyên bang nhân điều giải tranh cãi lão giả, lời nói không nhiều lắm, lại tổng có thể nhất châm kiến huyết cởi bỏ bế tắc.
Ngàn năm sinh · nứt thạch khách
Ngàn năm kinh tam lăng đã phi cỏ cây hình thái, thường hóa thân vì một đầu thanh hắc sắc lăng giáp thú, ngủ đông ở núi sâu khe nước. Nó mỗi một lần vẫy đuôi, đều có thể bổ ra chặn đường cự thạch, liền ngàn năm ngoan nham đều có thể bị nó tam lăng sống hoa rạn nứt phùng. Người miền núi nhóm gặp được nó ở dưới ánh trăng nứt thạch mở đường, liền gọi nó “Nứt thạch khách”. Danh hào này mang theo giang hồ khí, giống một vị độc hành hiệp khách, tung tích khó tìm lại luôn có truyền kỳ truyền lưu —— có tiều phu nói từng thấy nó vì cứu vây ở đáy vực hái thuốc người, một đêm gian bổ ra nửa mặt vách núi; có thợ săn xưng nó ở mưa to trước phá khai tắc nghẽn lũ bất ngờ thông đạo, cứu nửa cái thôn. “Khách” tự lại thêm vài phần xa cách, phảng phất nó chỉ là này sơn gian khách qua đường, hoàn thành sứ mệnh liền ẩn vào mây mù.
Vạn năm sinh · lăng Huyền Chân người
Vạn năm kinh tam lăng đã hóa hình người, thanh hắc sắc kính trang áo khoác kiện lăng văn đạo bào, giữa mày ba đạo hình thoi ấn ký ẩn hiện. Hắn thường chống một thanh tam lăng hình gậy chống, đầu trượng có thể tùy tâm ý hóa thành lưỡi dao sắc bén hoặc chìa khóa, đã có thể bổ ra hư vọng, cũng có thể mở ra phủ đầy bụi linh mạch. Tu chân giới thấy hắn thần thông huyền diệu, giỏi nhất lấy lăng quang bài trừ tâm ma tắc nghẽn, liền tôn vì “Lăng Huyền Chân người”. “Huyền” tự điểm ra này đạo vận, không hề chấp nhất với sức trâu nứt thạch, mà là lấy huyền ảo pháp lý hóa giải cản trở —— có tu sĩ tạp ở Hóa Thần kỳ 300 năm, tâm ma chi chít, hắn chỉ lấy gậy chống ở này linh đài nhẹ điểm, ba đạo lăng quang nhập thể, liền thấy kia tu sĩ phun ra một ngụm máu đen, trong mắt sương mù tẫn tán. Danh hào này có tiên phong đạo cốt, lại vẫn mang theo “Lăng” cương trực, chỉ là mới vừa đến càng thông thấu, thẳng đến càng viên dung.
Mười vạn năm sinh · khai đạo nguyên tôn
Mười vạn năm kinh tam lăng đã liệt tiên ban, đỉnh đầu huyền phù ba đạo kim sắc lăng văn thần ấn, chấp chưởng thiên địa thông trệ pháp tắc. Hắn phất tay gian, có thể làm tắc nghẽn ngân hà quay về quỹ tự; ngưng mắt khi, nhưng nhìn thấu hàng tỉ năm thời không sương mù, tìm ra mấu chốt nơi. Chư thần thấy hắn với hỗn độn trung bổ ra đệ nhất đạo linh khí thông lộ, dẫn thanh quang tẩm bổ vạn vật, liền tôn vì “Khai đạo nguyên tôn”. “Nguyên” tự hiện này căn nguyên, là lúc ban đầu khai thác giả; “Tôn” tự biểu này vị cách, lại vô nửa phần kiêu căng. Truyền thuyết hắn thường hóa thành tầm thường đạo nhân hành tẩu thế gian, ngộ có khốn đốn giả, chỉ tặng một quả tam lăng hình mộc bài, cầm bài giả tuy không thấy này hình, lại tổng có thể ở tuyệt lộ chỗ phùng sinh —— hoặc là lấp kín đường sông đột nhiên trướng nước trôi khai chướng ngại, hoặc là mắc kẹt ý nghĩ chợt thanh minh, này đó là “Khai đạo” chân ý: Không cần tự tay làm lấy, chỉ cần mai phục đường cái hạt giống.
Từ “Lăng mầm tử” đến “Khai đạo nguyên tôn”, danh hào bùn đất khí tiệm đạm, thần tính dần dần dày, lại trước sau mang theo “Lăng” trung tâm —— lấy cương trực phá ứ, lấy thông thấu khai đạo, biến chính là cảnh giới, bất biến chính là kia phân làm cản trở trừ khử, làm đường cái hiện ra chấp niệm.
Kinh tam lăng sinh trưởng nhớ: Từ vũng bùn đến ngân hà ngàn năm rèn luyện
Mười năm · ứ than ma mới
Mười tuổi kinh tam lăng, còn giấu ở Giang Nam vùng sông nước nước bùn. Nó thiên vị bờ sông tuyến nhất ái muội mảnh đất —— đã phải có nước chảy mang đến chất dinh dưỡng, lại đến có nửa lộ nửa yêm ứ than cung thân củ hô hấp. Ngày xuân ánh mặt trời xuyên thấu vẩn đục mặt nước, ở nó tam lăng hình chồi non thượng đầu hạ toái kim, mới vừa có ngọn hành cán nộn đến giống phỉ thúy, bọc tầng hơi mỏng chất nhầy, đó là nó đối kháng ứ hủ vi sinh vật áo giáp.
Lúc này nó bất quá nửa thước cao, thân củ chỉ có ngón cái lớn nhỏ, da trơn trượt, mang theo thổ mùi tanh. Chung quanh là dây dưa rong cùng hoành hành tiểu cua, nó lại tổng có thể vòng qua chướng ngại, đem rễ chùm trát hướng càng sâu ốc thổ. Thủy triều lên khi, vẩn đục nước sông mạn quá nó phiến lá, nó liền đem lỗ khí bế đến gắt gao; thuỷ triều xuống sau, nước bùn da nẻ, nó lại giãn ra phiến lá, tham lam mà mút vào ánh mặt trời. Nông phụ nhóm rửa rau khi thấy, sẽ cười đẩy ra nó chung quanh thủy hồ lô: “Này tiểu lăng mầm, đảo so đồ ăn mầm còn tinh thần.”
Trăm năm · khê bạn duệ cốt
Trăm năm kinh tam lăng, đã dịch đến khe núi chỗ nước cạn. Nơi này thủy càng thanh, thạch càng nhiều, nó hành cán lớn lên so thủ đoạn còn thô, tam lăng sống thượng ngưng tầng ám màu nâu ngạnh xác, sờ lên giống lão sừng trâu. Thân củ ở đá vụn phùng chi chít, chừng bóng rổ lớn nhỏ, cắt ra tới xem, tiết diện tuyết trắng, dày đặc tế như sợi tóc rễ phụ, đó là nó ở khe đá trung đoạt thủy đoạt phì vũ khí sắc bén.
Nó không hề là nhu nhược thủy sinh thảo, phiến lá bên cạnh mọc ra tinh mịn răng cưa, hành cán đứng thẳng như ném lao, có thể đứng vững lũ bất ngờ đánh sâu vào. Mưa to qua đi, người miền núi nhóm hội nghị thường kỳ phát hiện, bị nó cắm rễ khúc sông rất ít trầm tích, những cái đó nguyên bản tắc nghẽn đường sông đá vụn, thế nhưng bị nó thân củ đỉnh đến kế tiếp lui về phía sau. Có kinh nghiệm lão ngư ông nói: “Này nứt thạch khách căn, so thiết thiên còn ngạnh.” Lúc này nó, đã ở khe đá gian sáng lập ra thuộc về chính mình lãnh địa, chung quanh ba trượng nội, liền ngoan cố nhất rêu xanh cũng không dám tùy ý lan tràn.
Ngàn năm · vách đá lăng hồn
Ngàn năm kinh tam lăng, leo lên chênh vênh vách đá. Nó lựa chọn không phải ốc thổ, mà là tầng nham thạch đứt gãy mang —— nơi đó có chảy ra sơn tuyền, có ngày đêm độ chênh lệch nhiệt độ trong ngày rèn luyện khoáng vật, càng có đủ để áp suy sụp bình thường cỏ cây trận gió. Nó hình thái đã lặng yên thay đổi: Thân củ hóa thành màu xám đậm, mặt ngoài che kín tổ ong trạng lỗ thủng, có thể chứa đựng nước mưa; hành cán không hề đứng thẳng, mà là dọc theo vách đá nằm ngang kéo dài, mỗi một tấc sinh trưởng đều mang theo xoay chuyển lực đạo, phảng phất muốn đem nham thạch ninh ra cái khe.
Nhất kinh người chính là nó lăng sống, đã cứng đờ như huyền thiết, ở dưới ánh trăng phiếm lãnh quang. Ngẫu nhiên có gió núi lôi cuốn đá vụn tạp tới, nó không né không tránh, lăng sống đón nhận đi, “Ca” một tiếng đem đá vụn đâm cho dập nát. Hái thuốc người từng thấy nó ở sấm đánh khi toàn thân sáng lên, vách đá thượng thế nhưng bị nó rễ phụ chui ra điều điều thâm mương, những cái đó khe rãnh sau lại thành người miền núi tránh mưa thiên nhiên hang đá. Lúc này nó, đã cùng vách đá hòa hợp nhất thể, nham thạch là nó cốt, sơn tuyền là nó huyết, trận gió là nó hô hấp.
Vạn năm · ngân hà miêu điểm
Vạn năm kinh tam lăng, rời đi mặt đất, trú lưu tại biển mây chỗ sâu trong tinh nham thượng. Nơi này không có bùn đất, chỉ có trôi nổi tinh trần cùng cuồng bạo năng lượng lưu, nó lại đem thân củ hóa thành nửa trong suốt tinh hạch, giống viên huyền phù hình đa diện kim cương, lăng mặt chiết xạ ánh sao, đem năng lượng lưu chải vuốt thành dịu ngoan quang mang.
Hành cán hóa thành vô số chỉ bạc, một mặt cắm rễ tinh nham, một mặt nắm lưu chuyển tinh vân, những cái đó chỉ bạc kỳ thật là nó rễ phụ, có thể bắt giữ tia vũ trụ trung năng lượng. Nó không hề yêu cầu phiến lá tiến hành tác dụng quang hợp, mà là lấy tinh hạch trực tiếp hấp thu tinh quang, mỗi hơn trăm năm, tinh hạch liền sẽ nhiều một đạo lăng mặt, đến vạn năm khi, đã hóa thành hoàn mỹ 29 mặt thể, đối ứng 29 cái tinh hệ quỹ đạo tham số. Ngẫu nhiên có mất khống chế thiên thạch tới gần, nó chỉ cần chuyển động tinh hạch, một đạo lăng quang bắn ra, liền có thể đem thiên thạch phân giải thành vô hại tinh trần.
Mười vạn năm · pháp tắc chi hình
Mười vạn năm kinh tam lăng, đã mất cố định hình thái. Nó có thể là một đạo ngang qua tinh hệ tam lăng cột sáng, đem hỗn loạn dẫn lực tràng bát hồi quỹ đạo; cũng có thể là một mảnh tràn ngập lăng văn đám sương, thẩm thấu tiến tắc nghẽn thời không kẽ nứt, làm đình trệ thời gian một lần nữa lưu động. Nó “Sinh trưởng hoàn cảnh” thành toàn bộ vũ trụ pháp tắc khe hở —— nơi nào có năng lượng tắc nghẽn, nơi nào có thời không thắt, nơi nào liền có nó tung tích.
Nó “Thân củ” hóa thành pháp tắc miêu điểm, chôn sâu ở các duy độ điểm tới hạn; “Hành cán” hóa thành đường cái mạch lạc, liên tiếp bất đồng thời không năng lượng tiết điểm. Đương có tân sinh vũ trụ ra đời, nó sẽ đầu hạ một đạo lăng quang, vì hỗn độn trung linh khí bổ ra điều thứ nhất thông lộ; đương có già cả tinh hệ đình trệ, nó sẽ hóa thành một trận lăng phong, thổi tan trở ngại tinh thể vận chuyển bụi bặm. Lúc này nó, đã trở thành “Thông suốt” bản thân, không hề yêu cầu dựa vào bất luận cái gì chất môi giới, lại làm vạn vật đều ỷ lại nó tồn tại mà lưu chuyển không thôi.
Từ ứ than một mạt tân lục, đến ngân hà pháp tắc chi hình, kinh tam lăng mỗi một lần lột xác, đều ở thuyết minh cùng cái chân lý: Chân chính cường đại, không phải ở ốc trong đất an nhàn sinh trưởng, mà là ở tuyệt cảnh bổ ra sinh lộ, đem trở ngại biến thành chính mình chất dinh dưỡng, làm mỗi một đạo lăng sống, đều trở thành chiếu sáng lên đường cái quang.
Kinh tam lăng tu chân phân bố
Kinh tam lăng tu hành chi lộ lấy “Thông trệ khai ứ” vì trung tâm, tung tích từ phàm giới tắc nghẽn nơi từng bước mại hướng Linh giới khí cơ đầu mối then chốt, mỗi một bước đều theo “Lấy lăng duệ phá kết, lấy mềm dẻo đường cái” mạch lạc, kiêm cụ cương mãnh cùng linh động:
- mười năm sinh: Nhiều cắm rễ với phàm giới Giang Nam ứ than, ruộng lúa biên giác, như Tô Hàng đất ướt đầm lầy, Sở địa Vân Mộng Trạch bên cạnh. Nơi này khí hậu giao hòa, nước bùn thâm hậu lại giấu giếm “Nước chảy linh vận”, kinh tam lăng thân củ như ngón út phẩm chất, tam lăng hình hành cán đứng thẳng với nước cạn trung, có thể hấp thụ nước bùn trung đục vật, làm chung quanh ba thước thuỷ vực trở nên thanh triệt. Chung quanh nhiều cộng sinh “Rau nghể” “Lục bình” chờ ướt sinh thực vật, mượn chúng nó bộ rễ bện “Lự kênh rạch chằng chịt”, cộng đồng tinh lọc khí hậu, hình thành “Sơ ứ tiểu cảnh”, phàm tục uống này phụ cận thủy, nhưng tiêu bụng trướng khí trệ.
- trăm năm sinh: Hướng “Chín khúc khê” “Ứ long khe” di chuyển, loại này địa vực nhiều vì đường sông chuyển biến chỗ hoặc sơn tuyền hối ứ nơi, đáy nước trầm tích ngàn năm mùn, ẩn chứa “Ứ trung sinh khí”. Kinh tam lăng thân củ bành trướng như nắm tay, da sinh ra ba đạo lăng sống, lăng mũi lợi như đao, có thể đâm thủng nước bùn làm cứng, hành cán tính dai tăng nhiều, nhưng tùy dòng nước đong đưa lại không dễ bẻ gãy. Nó có thể hấp thu mùn trung tinh hoa, rèn luyện ra “Hóa ứ linh dịch”, tu sĩ phục chi nhưng giải kinh mạch lúc đầu tắc nghẽn. Chung quanh thường sống ở “Khê cua” “Ốc đá” chờ mang xác thủy tộc, hình thành “Hoàn ứ trận”, mượn chúng nó hoạt động quấy dòng nước, trợ kinh tam lăng khuếch tán linh dịch.
- ngàn năm sinh: Tiến vào “Huyền ứ đàm” “Lăng quang hiệp” chờ cao giai linh vực, như nam lĩnh ngầm sông ngầm, Tây Vực hồ nước mặn ứ tâm. Nơi đây tắc nghẽn cùng linh khí đan chéo, hình thành “Ứ linh kết tinh”, kinh tam lăng thân củ hóa thành nửa trong suốt lăng hình tinh thể, bộ rễ như chỉ bạc xuyên thấu đáy đàm nước bùn, thẳng tới tầng nham thạch khe hở, có thể đem ứ linh kết tinh chuyển hóa vì “Lăng duệ linh lực”. Nó nhưng chặt đứt tu sĩ trong cơ thể “Đàm ứ kết đan”, thần hồn trung chấp niệm cũng có thể bị này lăng quang gột rửa. Chung quanh cộng sinh “Huyền thủy quy” “Lăng lân cá” chờ linh vật, hình thành “Thông ứ kết giới”, kết giới nội tắc nghẽn chi khí sẽ tự động hướng kinh tam lăng hội tụ, cung này luyện hóa.
- vạn năm sinh: Chuyển nhà “Ứ hải thiên giai” “Linh oa chi mắt” chờ không trung linh vực, như huyền phù với vũ vân phía trên ứ khí ngôi cao, liên tiếp tứ hải linh mạch tắc nghẽn tiết điểm. Này đó địa phương linh khí trình lốc xoáy trạng đình trệ, ẩn chứa “Ứ cực sinh biến” chi lực. Kinh tam lăng bản thể hóa thành trượng cao lăng hình cây cối, hành cán như bích ngọc tạo hình, phiến lá bên cạnh buông xuống lăng trạng giọt sương, mỗi tích giọt sương đều có thể hóa giải tu sĩ trong cơ thể vạn năm ứ độc. Linh vực chung quanh vờn quanh “Toàn ứ dòng khí”, dòng khí kinh này lăng sống chải vuốt sau, sẽ hóa thành tinh thuần linh lực, chỉ có lòng mang trong suốt giả có thể ở trong đó tu hành.
- mười vạn năm sinh: Thần thể dung nhập “Hồng Mông ứ nguyên” —— trong thiên địa “Thông ứ pháp tắc” căn nguyên nơi, nơi này vô hình vô chất, chỉ có “Ứ cùng thông” pháp tắc lưu chuyển. Kinh tam lăng hóa thân vì “Thông ứ nguyên quân”, thân hình thường trình ba đạo lăng quang đan chéo thái độ, phàm có khí cơ tắc nghẽn chỗ, này thần niệm có thể đạt được liền có thể dẫn “Lăng quang” xuyên thấu, vô luận là phàm tục huyết mạch tắc nghẽn, vẫn là Linh giới pháp tắc thắt, đều có thể nháy mắt thông suốt, trở thành “Thông ứ pháp tắc” cụ tượng hóa tồn tại.
Bảo hộ thần thú danh sách
Kinh tam lăng nhân thân phụ “Thông ứ” chi lực, hấp dẫn bảo hộ thần thú nhiều vì thủy thuộc tính hoặc thiện với khai thông linh vật, lẫn nhau mượn ứ thủy linh vận tương sinh, cộng trúc đường cái phòng tuyến:
1. Lăng giáp thu ( mười năm ): Toàn thân bao trùm lăng hình tế lân, sống ở với kinh tam lăng hệ rễ nước bùn trung, có thể cảm giác dòng nước trung tắc nghẽn hướng đi, trước tiên báo động trước hạn úng. Này phân bố chất nhầy lẫn vào trong nước, nhưng tăng cường kinh tam lăng hóa ứ năng lực, làm chung quanh thuỷ vực đục vật càng mau lắng đọng lại, là tri kỷ “Lự ứ dẫn đường”.
2. Toàn ứ vịt ( trăm năm ): Vịt hình, cánh chim mang lăng trạng vằn, thường phù du với kinh tam lăng chung quanh thuỷ vực. Nó mỗi ngày dùng mõm quấy đáy nước nước bùn, làm ứ trung linh khí càng dễ dàng bị kinh tam lăng hấp thu; ban đêm tắc dùng cánh bảo vệ kinh tam lăng hành cán, chống đỡ hàn thủy xâm nhập, này phân rơi vào trong nước, sẽ hóa thành “Hóa ứ lốm đốm”, trợ kinh tam lăng khuếch tán linh lực.
3. Huyền lăng heo vòi ( ngàn năm ): Thân hình tựa heo vòi, da lông như nước chảy mượt mà, có thể phun ra nuốt vào “Ứ linh vụ khí”. Nó thường nằm với kinh tam lăng tinh thể bên, phun ra sương mù nhưng ngưng tụ vì lăng hình quang phiến, tăng cường kinh tam lăng phá ứ duệ tính; này đề ấn rơi vào ứ đàm, sẽ sinh ra thanh tuyền cột nước, cọ rửa đáy đàm nước bùn, phương tiện kinh tam lăng bộ rễ kéo dài.
4. Thông ứ cá chép ( vạn năm ): Cẩm lý hình thái, vảy trình lăng hình, phiếm bảy màu thủy quang, sống ở với kinh tam lăng sinh trưởng mà linh oa trung. Nó có thể dẫn động tứ hải ứ thủy hội tụ, vì kinh tam lăng cung cấp “Ứ linh căn nguyên”; ngộ ngoại địch khi, vảy nhưng hóa thành lăng hình thủy nhận, chặt đứt đối phương tắc nghẽn công kích, thủy nhận rơi xuống đất chỗ sẽ sinh ra linh tuyền, tẩm bổ kinh tam lăng.
5. Lăng nói thần long ( mười vạn năm ): Hình rồng, long thân từ ba đạo lăng trạng thủy mang cấu thành, chiếm cứ với Hồng Mông ứ nguyên bên cạnh. Này long tức vì “Chí nhu thông ứ tuyền”, có thể hóa giải chư thiên vạn giới ngoan cố nhất khí cơ tắc nghẽn, cùng “Thông ứ nguyên quân” cộng chưởng “Lấy lăng thông ứ” pháp tắc. Long thân đong đưa khi, ba đạo thủy mang sẽ hóa thành quán thông thiên địa lăng hình thông đạo, làm tắc nghẽn chi khí theo nói lưu chuyển, là bảo hộ vũ trụ khí cơ cân bằng chung cực đường cái.
Này đó thần thú cùng kinh tam lăng lẫn nhau tẩm bổ, lấy ứ thủy linh vận vì ràng buộc, ở “Thông trệ khai ứ” chi trên đường hình thành cương nhu cũng tế cộng sinh quan hệ, cộng đồng suy diễn “Lấy lăng phá kết, lấy thông dưỡng linh” tu chân truyền kỳ.
Mười năm kỳ ( 1-20 )
1. Lăng mầm tán: Kinh tam lăng ( mười năm ) 2 tiền + hoạt thạch 3 tiền, hóa dạ dày tràng ứ khí, tiêu bụng trướng như chẻ tre.
2. Phá ứ đan: Kinh tam lăng 3 tiền + hoa hồng 1 tiền, điều rượu phục, tán ngã đánh ứ sưng lập tiêu.
3. Thanh ứ hoàn: Kinh tam lăng 2 tiền + cù mạch 3 tiền, thông xối lợi tiểu, hóa nước tiểu lộ ứ thạch.
4. Thông tràng đan: Kinh tam lăng 1 tiền + đại hoàng 2 tiền, phá tràng trung tích trệ, thông liền như tuấn mã.
5. Lăng tiêm cao: Kinh tam lăng 3 tiền + sơn chi 2 tiền, thoa ngoài da ung sưng, hội ứ bài độc mau.
6. Hóa thực hoàn: Kinh tam lăng 2 tiền + thần khúc 3 tiền, tiêu tiểu nhi nhũ tích, khai vị tăng thực.
7. Tán hà đan: Kinh tam lăng 3 tiền + ba ba giáp 2 tiền, hóa dưới da ứ kết, mềm như sợi bông.
8. Thông kinh tán: Kinh tam lăng 2 tiền + ngải diệp 1 tiền, ôn kinh phá ứ, đau bụng kinh lập ngăn.
9. Tịnh thủy linh: Kinh tam lăng 1 tiền + bạc hà 2 tiền, nấu thủy uống, thanh trong cổ họng ứ đàm.
10. Lăng cần cao: Kinh tam lăng 3 tiền + hoàng bách 2 tiền, mạt nấm chân, hóa ướt ứ ngăn ngứa.
11. Phá khí đan: Kinh tam lăng 2 tiền + cây cau 1 tiền, phá ngực hiếp trướng khí, hô hấp thông thuận.
12. Tiêu bĩ hoàn: Kinh tam lăng 3 tiền + chỉ thực 2 tiền, hóa khoang dạ dày báng, tiêu thực mau.
13. Hóa ứ rượu: Kinh tam lăng 3 tiền phao rượu gạo, uống sau thông huyết mạch, đuổi hàn ứ.
14. Lăng diệp tán: Kinh tam lăng 2 tiền + lá dâu 1 tiền, chiên thủy tẩy mắt, tiêu mục ứ sưng đau.
15. Thông nhũ đan: Kinh tam lăng 1 tiền + vương không lưu hành 3 tiền, hóa nhũ ứ, thông nhũ như suối phun.
16. Phá kết cao: Kinh tam lăng 3 tiền + bồ kết thứ 2 tiền, thoa ngoài da lỗi lịch, hội ứ tán kết.
17. Thanh huyết hoàn: Kinh tam lăng 2 tiền + sinh địa 3 tiền, lạnh huyết phá ứ, ngăn dưới da xuất huyết.
18. Lăng căn tán: Kinh tam lăng 3 tiền + thông khí 1 tiền, khư phong phá ứ, ngăn khớp xương tý đau.
19. Hóa chi đan: Kinh tam lăng 2 tiền + sơn tra 3 tiền, tiêu huyết chi ứ khối, mạch máu thông.
20. Tịnh ứ tán: Kinh tam lăng 3 tiền + phèn chua 1 tiền, tịnh thủy độc, giải cá tôm ứ độc.
Trăm năm kỳ ( 21-40 )
21. Lăng sống đan: Kinh tam lăng ( trăm năm ) 4 tiền + nam châm 2 tiền, tôi thể thông mạch, phá sơ giai linh ứ.
22. Nứt ứ hoàn: Kinh tam lăng 5 tiền + đỉa 3 tiền, hóa năm xưa huyết ứ, như băng dung thủy.
23. Thấu cốt cao: Kinh tam lăng 4 tiền + xuyên ô 2 tiền, mạt gân cốt, thấu ứ đuổi hàn tý.
24. Phá chướng đan: Kinh tam lăng 5 tiền + rễ sô đỏ 3 tiền, giải khai tu sĩ kinh mạch tắc nghẽn, trợ Trúc Cơ.
25. Lăng tinh tán: Kinh tam lăng 4 tiền + răng động vật hoá thạch 2 tiền, thanh não ứ, an thần phá bóng đè.
26. Hóa nham hoàn: Kinh tam lăng 5 tiền + nửa chi liên 3 tiền, hóa trong cơ thể ác ứ, như nham băng giải.
27. Thông huyền đan: Kinh tam lăng 4 tiền + viễn chí 2 tiền, khai não khiếu, ngộ pháp phá mê chướng.
28. Nứt thạch đan: Kinh tam lăng 5 tiền + nung thạch cao 3 tiền, tăng quyền lực, toái đá cứng như bùn.
29. Tịnh mạch tán: Kinh tam lăng 4 tiền + địa long 2 tiền, thông tắc linh mạch, linh lực sướng lưu.
30. Lăng quang cao: Kinh tam lăng 5 tiền + xạ hương 1 tiền, mạt kinh lạc, thấu ứ tiêu mười năm tý.
31. Phá vọng đan: Kinh tam lăng 4 tiền + Ngưu Hoàng 1 tiền, phá tâm ma ảo giác, linh đài thanh minh.
32. Hóa ứ châu: Kinh tam lăng 5 tiền + trân châu phấn 3 tiền, mang thân hóa quanh thân ứ, hộ linh căn.
33. Thông ứ rượu: Kinh tam lăng 4 tiền + đương quy 3 tiền, phao linh tửu, uống sau trướng tu vi.
34. Lăng duệ hoàn: Kinh tam lăng 5 tiền + hổ cốt phấn 2 tiền, cường cốt tủy, kháng đao kiếm phách chém.
35. Khai gân đan: Kinh tam lăng 4 tiền + cây tục đoạn 3 tiền, kéo gân khai mạch, nhu như tơ nhận như cương.
36. Phá trệ đan: Kinh tam lăng 5 tiền + cây cải củ tử 2 tiền, hóa đan điền tắc nghẽn, linh lực chuyển như bay.
37. Thấu ứ châm: Kinh tam lăng 4 tiền + kim tinh sa 1 tiền, luyện vì châm, đâm vào giải linh mạch ứ.
38. Xé trời đan: Kinh tam lăng 5 tiền + phong linh thảo 2 tiền, tụ khí thành nhận, nứt hư không đả thương địch thủ.
39. Thanh ứ đan: Kinh tam lăng 4 tiền + nhân trần 3 tiền, hóa can đảm ứ, bệnh vàng da lập tiêu.
40. Lăng giáp tán: Kinh tam lăng 5 tiền + mai rùa 2 tiền, cố tinh huyết, phá khí huyết song ứ.
Ngàn năm kỳ ( 41-60 )
41. Lăng linh đan: Kinh tam lăng ( ngàn năm ) 5 tiền + linh mạch tâm 3 tiền, nứt linh mạch tắc nghẽn, linh lực bạo dũng.
42. Phá giới hoàn: Kinh tam lăng 6 tiền + giới thạch phấn 2 tiền, trợ tu sĩ phá tiểu thế giới hàng rào, vượt giới hành.
43. Thấu huyền đan: Kinh tam lăng 5 tiền + huyền sâm 4 tiền, thấu thần hồn tắc nghẽn, ngộ đại đạo căn nguyên.
44. Toái vọng đan: Kinh tam lăng 6 tiền + thanh tâm thảo 3 tiền, phá tâm ma ảo cảnh, thức chân thật không mê hành.
45. Xé trời cao: Kinh tam lăng 5 tiền + hư không hoa 2 tiền, mạt thân, xuyên qua hư không vô trệ sáp.
46. Khai thiên đan: Kinh tam lăng 6 tiền + Hồng Mông thạch 1 tiền, tụ khí hướng khiếu, phá Kim Đan bình cảnh.
47. Hóa ứ châu: Kinh tam lăng 5 tiền + tiên châu phấn 3 tiền, luyện vì châu, mang thân hóa tiên vực ứ.
48. Phá chướng kiếm đan: Kinh tam lăng 6 tiền + vẫn thiết sa 3 tiền, tôi mũi kiếm, trảm linh chướng như thiết đậu hủ.
49. Thấu hồn tán: Kinh tam lăng 5 tiền + Tử Hà Xa 3 tiền, thanh thức hải ứ, nhớ trước kia ngộ nhân quả.
50. Nứt cốt đan: Kinh tam lăng 6 tiền + long huyết đằng 2 tiền, luyện thể sau, nứt xương trọng sinh kiên du kim.
51. Thông huyền hoàn: Kinh tam lăng 5 tiền + nhân sâm 4 tiền, thông huyền khiếu, cùng thiên địa linh tức cộng minh.
52. Phá ứ đan: Kinh tam lăng 6 tiền + huyết kiệt 3 tiền, hóa tiên thể ứ, sống chết cơ bắp bạch cốt.
53. Nứt phong đan: Kinh tam lăng 5 tiền + phong mẫu châu 2 tiền, tụ phong thành nhận, nứt trận gió như toái giấy.
54. Khai mạch cao: Kinh tam lăng 6 tiền + linh xà gan 3 tiền, mạt linh mạch, mười năm tắc nghẽn một ngày thông.
55. Toái giới đan: Kinh tam lăng 5 tiền + giới bia mảnh vỡ 2 tiền, ném nứt giới bích, nhập bí cảnh như xuyến môn.
56. Thấu ứ châm: Kinh tam lăng 6 tiền + thiên tơ vàng 1 tiền, luyện vì châm, đâm vào tiên cốt giải vạn tái ứ.
57. Phá vọng rượu: Kinh tam lăng 5 tiền + ngộ đạo trà 3 tiền, phao tiên nhưỡng, uống sau thức tâm ma phá hư vọng.
58. Duệ phong hoàn: Kinh tam lăng 6 tiền + kim cương 2 tiền, luyện chỉ trảo, nứt tiên kim như tước mộc.
59. Thông ứ đan: Kinh tam lăng 5 tiền + tuyết liên 4 tiền, hóa linh căn ứ, linh căn phẩm cấp thăng nhất giai.
60. Nứt hồn đan: Kinh tam lăng 6 tiền + hồn tinh 3 tiền, phá thần hồn gông xiềng, hồn thức bạo trướng khống vạn hồn.
Vạn năm kỳ ( 61-80 )
61. Phá giới đan: Kinh tam lăng ( vạn năm ) 7 tiền + giới hạch mảnh nhỏ 3 tiền, ném chi nứt thế giới vô biên vách tường.
62. Nứt nói đan: Kinh tam lăng 8 tiền + nói thai hoa 2 tiền, phục sau ngộ đạo pháp như nứt bạch, phá con đường ứ.
63. Thấu tiên cao: Kinh tam lăng 7 tiền + tiên nhũ 4 tiền, mạt thân thể thần tiên, thấu tiên cốt ứ, ngàn năm tý đau tiêu.
64. Toái vọng đan: Kinh tam lăng 8 tiền + chân ngã hoa 3 tiền, phá luân hồi ảo giác, thức bản ngã siêu luân hồi.
65. Xé trời đan: Kinh tam lăng 7 tiền + hư không tinh 4 tiền, tụ khí thành xé trời nhận, trảm không gian như nứt bạch.
66. Khai thiên hoàn: Kinh tam lăng 8 tiền + Hồng Mông mây tía 1 tiền, trợ phá thánh cảnh bình cảnh, như khai thiên tích địa.
67. Hóa ứ châu: Kinh tam lăng 7 tiền + tiên châu phấn 4 tiền, luyện vì châu, mang chi hóa tiên vực ứ hộ thánh thể.
68. Phá chướng kiếm đan: Kinh tam lăng 8 tiền + sao trời thiết 3 tiền, tôi thánh kiếm, trảm pháp tắc ứ chướng như thiết bùn.
69. Thấu hồn tán: Kinh tam lăng 7 tiền + hồn nguyên tinh 4 tiền, thanh thức hải ứ, nhớ muôn đời trước kia ngộ luân hồi.
70. Nứt cốt đan: Kinh tam lăng 8 tiền + long huyết tinh 3 tiền, luyện thánh cốt, vỡ vụn trọng sinh kiên du hỗn độn thạch.
71. Thông huyền hoàn: Kinh tam lăng 7 tiền + Hồng Mông thảo 4 tiền, thông huyền khiếu, cùng chư thiên đại nói cộng minh khăng khít.
72. Phá ứ đan: Kinh tam lăng 8 tiền + phượng hoàng huyết 3 tiền, hóa đế thể ứ, sống chết cơ khô mộc sinh hoa.
73. Nứt phong đan: Kinh tam lăng 7 tiền + phong linh châu 4 tiền, tụ phong thành nhận, nứt cửu thiên trận gió như toái giấy.
74. Khai mạch cao: Kinh tam lăng 8 tiền + tiên xà gan 3 tiền, mạt thánh mạch, vạn tái tắc nghẽn nhất thời thông.
75. Toái giới đan: Kinh tam lăng 7 tiền + giới nguyên thạch 4 tiền, ném chi nứt giới bích, nhập chư thiên như giẫm trên đất bằng.
76. Thấu ứ châm: Kinh tam lăng 8 tiền + thiên tơ vàng 3 tiền, luyện vì châm, đâm vào tiên cốt giải trăm triệu tái ứ.
77. Phá vọng rượu: Kinh tam lăng 7 tiền + ngộ đạo diệp 4 tiền, phao tiên nhưỡng, thức tâm ma căn nguyên phá tẫn hư vọng.
78. Duệ phong hoàn: Kinh tam lăng 8 tiền + kim cương tiên toản 3 tiền, luyện chỉ trảo, nứt tiên kim như tước gỗ mục.
79. Thông ứ đan: Kinh tam lăng 7 tiền + tuyết liên tiên 4 tiền, hóa linh căn ứ, linh căn phẩm cấp thăng tam giai.
80. Nứt hồn đan: Kinh tam lăng 8 tiền + hồn thánh tinh 3 tiền, phá thần hồn gông xiềng, hồn thức phúc chư thiên khống vạn tiên.
Mười vạn năm kỳ ( 81-100 )
81. Phá Hồng Mông đan: Kinh tam lăng ( mười vạn năm ) 9 tiền + Hồng Mông hạt 5 tiền, nứt Hồng Mông ứ, khai tân sinh giới.
82. Nứt pháp tắc đan: Kinh tam lăng 10 tiền + pháp tắc mảnh nhỏ 4 tiền, phá pháp tắc tắc nghẽn, sang chuyên chúc đạo tắc.
83. Thấu hỗn độn cao: Kinh tam lăng 9 tiền + hỗn độn dịch 5 tiền, mạt hỗn độn thể, thấu hỗn độn ứ sinh Hồng Mông khí.
84. Toái hư vọng đan: Kinh tam lăng 10 tiền + chân ngã căn nguyên hoa 4 tiền, phá vĩnh hằng ảo giác, siêu luân hồi.
85. Xé trời đan: Kinh tam lăng 9 tiền + hư không căn nguyên tinh 5 tiền, tụ khí thành nhận, trảm thời không như nứt bố.
86. Khai thiên hoàn: Kinh tam lăng 10 tiền + Rìu Khai Thiên mảnh nhỏ 4 tiền, trợ phá đế cảnh bình cảnh, như khai thiên tích địa.
87. Hóa ứ châu: Kinh tam lăng 9 tiền + tiên nguyên châu 5 tiền, luyện vì châu, mang chi hóa chư thiên ứ hộ đế thể.
88. Phá chướng kiếm đan: Kinh tam lăng 10 tiền + sao trời căn nguyên thiết 4 tiền, tôi đế kiếm, trảm pháp tắc ứ chướng như nghiền trần.
89. Thấu hồn tán: Kinh tam lăng 9 tiền + hồn nguyên căn nguyên tinh 5 tiền, thanh thức hải ứ, ngộ chung cực nói.
90. Nứt cốt đan: Kinh tam lăng 10 tiền + long vốn gốc nguyên tinh 4 tiền, luyện đế cốt, kiên du đại đạo thạch.
91. Thông huyền hoàn: Kinh tam lăng 9 tiền + Hồng Mông căn nguyên thảo 5 tiền, thông huyền khiếu, cùng chư thiên đại nói hợp nhất.
92. Phá ứ đan: Kinh tam lăng 10 tiền + phượng hoàng căn nguyên huyết 4 tiền, hóa đế thể ứ, khô mộc sinh hoa.
93. Nứt phong đan: Kinh tam lăng 9 tiền + phong linh căn nguyên châu 5 tiền, tụ phong thành nhận, nứt trận gió như thổi hôi.
94. Khai mạch cao: Kinh tam lăng 10 tiền + tiên xà căn nguyên gan 4 tiền, mạt đế mạch, trăm triệu tái tắc nghẽn nháy mắt thông.
95. Toái giới đan: Kinh tam lăng 9 tiền + giới nguyên căn nguyên thạch 5 tiền, ném chi nứt vạn giới vách tường, nhập chư thiên như xuyến môn.
96. Thấu ứ châm: Kinh tam lăng 10 tiền + thiên kim căn nguyên ti 4 tiền, luyện vì châm, đâm vào đế cốt giải hằng cổ ứ.
97. Phá vọng rượu: Kinh tam lăng 9 tiền + ngộ đạo căn nguyên diệp 5 tiền, phao tiên nhưỡng, phá tẫn hư vọng.
98. Duệ phong hoàn: Kinh tam lăng 10 tiền + kim cương tiên toản căn nguyên 3 tiền, luyện chỉ trảo, nứt đế kim như tước bùn.
99. Thông ứ đan: Kinh tam lăng 9 tiền + tuyết liên tiên căn nguyên 4 tiền, hóa linh căn ứ, linh căn thăng ngũ giai.
100. Nứt hồn đan: Kinh tam lăng 10 tiền + hồn thánh căn nguyên tinh 5 tiền, phá thần hồn chung cực gông xiềng, khống vạn đế hồn.
Lăng giáp thu: Ứ thủy chỗ sâu trong lự ứ dẫn đường
Kinh tam lăng cắm rễ chỗ nước cạn nước bùn, cất giấu vô số tinh mịn lỗ thủng, đó là lăng giáp thu chỗ ở. Loại này dài chừng nửa thước tiểu ngư, toàn thân bao trùm ba tầng điệp sai lăng hình tế lân, mỗi phiến lân giáp bên cạnh đều phiếm than chì sắc kim loại ánh sáng, phảng phất thân khoác mini áo giáp. Nhất đặc biệt chính là nó vây lưng, hóa thành một đạo thấp bé lăng sống, theo sống lưng kéo dài đến cuối vây cá, làm nó ở nước bùn trung đi qua khi, giống một thanh linh hoạt tiểu lê.
Sáng sớm đám sương còn chưa tan hết khi, lăng giáp thu liền bắt đầu rồi một ngày bận rộn. Nó đong đưa mang lăng vây đuôi, từ kinh tam lăng nhất thô tráng bộ rễ bên du ra, hôn bộ hơi hơi thượng kiều, không ngừng phun ra nuốt vào nước bùn. Nó mang bộ có đặc thù lọc kết cấu, có thể ở vẩn đục trong nước tinh chuẩn phân biệt ra tắc nghẽn ngọn nguồn —— là thượng du vọt tới hủ diệp chồng chất, vẫn là đáy nước nước bùn bắt đầu làm cho cứng. Mỗi khi cảm giác đến dòng nước trung tạp chất mật độ đột nhiên lên cao, nó trên sống lưng lăng lân liền sẽ nhẹ nhàng chấn động, phát ra chỉ có kinh tam lăng bộ rễ có thể bắt giữ đến mỏng manh sóng âm, như là ở phát ra báo động trước: “Phía đông tắc nghẽn tăng thêm.”
Kinh tam lăng bộ rễ sẽ lập tức làm ra đáp lại, rễ chùm hướng tới lăng giáp thu cảnh báo phương hướng kéo dài, phân bố ra hóa ứ linh dịch. Mà lăng giáp thu tắc sẽ bơi tới linh dịch khuếch tán bên cạnh, dùng hôn bộ quấy nước bùn, làm linh dịch càng mau mà cùng ứ đục dung hợp. Nó phân bố chất nhầy lúc này sẽ phát huy mấu chốt tác dụng —— loại này trong suốt chất nhầy lẫn vào trong nước, sẽ làm ứ đục hạt càng mau ngưng tụ, nguyên bản yêu cầu nửa ngày mới có thể lắng đọng lại bùn sa, ở chất nhầy thôi hóa hạ, một canh giờ liền sẽ ở đáy nước ngưng tụ thành hơi mỏng ứ tầng, bị kinh tam lăng căn cần dần dần hấp thu.
Chính ngọ ánh mặt trời xuyên thấu qua mặt nước, ở nước bùn thượng đầu hạ loang lổ quầng sáng. Lăng giáp thu lẻn vào càng sâu lỗ thủng, nơi này liên tiếp kinh tam lăng nhất dày đặc bộ rễ internet. Nó dùng vây đuôi nhẹ nhàng chụp đánh một cây thô tráng rễ chính, đánh thức ngủ say cộng sinh quan hệ. Ngay sau đó, nó du hướng chỗ nước cạn bên cạnh, nơi đó có một đám ý đồ chui vào kinh tam lăng hệ rễ toản bùn trùng. Này đó sâu sẽ gặm thực căn cần, tạo thành tắc nghẽn. Lăng giáp thu sống lăng đột nhiên sáng lên ánh sáng nhạt, giống một thanh ra khỏi vỏ tiểu đao, linh hoạt mà xuyên qua ở trùng đàn trung, lăng lân xẹt qua chỗ, toản bùn trùng sôi nổi bị cắt thành hai đoạn, mà nó chính mình lại lông tóc vô thương —— những cái đó lăng lân không chỉ là phòng ngự, càng là tinh chuẩn vũ khí.
Sau giờ ngọ đột nhiên rơi xuống mưa to, thượng du hồng thủy lôi cuốn cành khô lá úa vọt mạnh xuống dưới, chỗ nước cạn mực nước nháy mắt dâng lên, vẩn đục dòng nước đánh sâu vào kinh tam lăng hành cán. Lăng giáp thu đột nhiên trở nên nôn nóng lên, nó ở trong nước điên cuồng mà vòng quanh kinh tam lăng hệ rễ bơi lội, sống lăng chấn động tần suất nhanh hơn mấy lần, thậm chí nhảy ra mặt nước, lộ ra than chì sắc sống lưng. Kinh tam lăng phiến lá lập tức làm ra phản ứng, nguyên bản giãn ra phiến lá hướng vào phía trong cuốn khúc, giảm bớt dòng nước đánh sâu vào, đồng thời căn cần điên cuồng xuống phía dưới trát nhập càng sâu thổ tầng, rễ chùm phía cuối phân bố ra đại lượng chất nhầy, cùng lăng giáp thu phía trước lưu lại chất nhầy dung hợp, ở hệ rễ hình thành một tầng trơn trượt bảo hộ màng, phòng ngừa bị hồng thủy hướng đoạn.
Trong mưa to, lăng giáp thu không có trốn hồi huyệt động, mà là ngược dòng mà lên, dùng hôn bộ đỉnh khai trôi nổi tạp vật. Nó lăng lân ở dòng nước xiết trung lấp lánh tỏa sáng, giống một viên ngoan cường ngôi sao. Đương một khối choai choai cục đá bị hồng thủy vọt tới, mắt thấy liền phải tạp trung kinh tam lăng hành cán khi, lăng giáp thu đột nhiên gia tốc, dùng sống lưng hung hăng đâm hướng cục đá mặt bên. Chỉ nghe “Đông” một tiếng trầm vang, cục đá bị đâm cho lệch khỏi quỹ đạo phương hướng, mà lăng giáp thu bị bắn ngược đi ra ngoài, ở trong nước phiên cái té ngã, thực mau lại bãi thẳng thân thể, tiếp tục rửa sạch chướng ngại. Nó trên sống lưng một mảnh lân giáp bị đâm cho hơi hơi nhếch lên, lại như cũ ngăn không được nó xuyên qua thân ảnh.
Qua cơn mưa trời lại sáng khi, chỗ nước cạn thủy dần dần thanh triệt. Lăng giáp thu du hồi kinh tam lăng hệ rễ, ở một mảnh tân hình thành ứ tầng thượng lưu lại tinh mịn vây đuôi ấn. Nó chậm rãi đong đưa thân thể, đem càng nhiều chất nhầy phân bố đến trong nước, trợ giúp kinh tam lăng gia tốc hấp thu sau cơn mưa chất dinh dưỡng. Kinh tam lăng phiến lá một lần nữa giãn ra, diệp tiêm nhỏ giọt bọt nước dừng ở mặt nước, kinh khởi một vòng gợn sóng, vừa lúc cùng lăng giáp thu sống lăng chấn động tần suất tương hợp.
Màn đêm buông xuống khi, lăng giáp thu sẽ cuộn tròn ở kinh tam lăng nhất thô tráng căn cần khe hở, lăng lân khép kín, giống một khối dung nhập nước bùn đá xanh. Nó hô hấp trở nên dài lâu, cùng kinh tam lăng bộ rễ hô hấp tiết tấu đồng bộ, phảng phất hai người xài chung một bộ sinh mệnh hệ thống tuần hoàn. Ánh trăng xuyên thấu qua mặt nước chiếu xuống dưới, ở nó lăng lân thượng đầu hạ nhỏ vụn quầng sáng, những cái đó quầng sáng theo nó hô hấp nhẹ nhàng phập phồng, như là ở vì này đối trầm mặc cộng sinh đồng bọn, ngâm nga khởi ứ thủy chỗ sâu trong yên giấc khúc.
Tại đây phiến nhìn như cằn cỗi ứ than, lăng giáp thu dùng nó không chớp mắt thân hình, vì kinh tam lăng dựng nên đệ nhất đạo lự ứ phòng tuyến. Nó không có kinh thiên động địa thần thông, lại dùng ngày qua ngày bảo hộ, thuyết minh “Đồng bọn” hai chữ trọng lượng —— tựa như kinh tam lăng căn cần không rời đi nước bùn, nó cũng sớm đã không rời đi này cây cùng nó lẫn nhau tẩm bổ linh thực, ở vẩn đục cùng thanh triệt luân phiên trung, cộng đồng bện thuộc về chỗ nước cạn sinh cơ.
Toàn ứ vịt lông chim tổng mang theo đầm nước hơi ẩm, hôi nâu giao nhau cánh chim thượng, mỗi phiến lông chim bên cạnh đều nạm một đạo ngân bạch lăng văn, triển khai khi giống rải một phen vụn băng, dưới ánh mặt trời hoảng đến người không mở ra được mắt. Nó tổng ở kinh tam lăng chung quanh thuỷ vực tới lui tuần tra, vịt mõm bẹp lại sắc bén, xẹt qua mặt nước lúc ấy kích khởi nhỏ vụn gợn sóng, phảng phất ở nhảy một chi quy luật Tango.
Sáng sớm ngày mới tờ mờ sáng, toàn ứ vịt liền bắt đầu rồi một ngày công tác. Nó cúi xuống thân, thật dài cổ linh hoạt mà uốn lượn, mõm tiêm tinh chuẩn mà chui vào đáy nước nước bùn, tả hữu quấy lên. Những cái đó trầm tích một đêm ứ khối bị nó giảo đến dập nát, giấu ở chỗ sâu trong linh khí hạt giống chấn kinh đom đóm, sôi nổi từ bùn trung vụt ra, ở trong nước bốc lên. Kinh tam lăng bộ rễ sớm đã chờ lâu ngày, rễ chùm phía cuối hơi hơi mở ra, tham lam mà hấp thụ này đó linh khí, hành cán lấy mắt thường có thể thấy được tốc độ giãn ra vài phần, phiến lá bên cạnh nổi lên nhàn nhạt viền vàng.
Có một lần, thượng du vọt tới một đống hư thối thủy thảo, ở kinh tam lăng hệ rễ xếp thành tắc nghẽn “Tiểu đê đập”. Toàn ứ vịt nhận thấy được dòng nước biến chậm, lập tức vùng vẫy cánh tiến lên, dùng mõm hung hăng mổ vỗ lên mặt nước thảo đôi, một bên mổ một bên dùng màng chưởng đặng đá, thẳng đến đem thủy thảo giảo thành mảnh vỡ. Nó thậm chí sẽ lẻn vào đáy nước, dùng mõm ngậm thủy thảo mảnh nhỏ du hướng nơi xa, bảo đảm kinh tam lăng “Linh khí thông đạo” thông suốt.
Tới rồi chạng vạng, thủy ôn tiệm lạnh, toàn ứ vịt sẽ bơi tới kinh tam lăng hành cán bên, đem một bên cánh chim triển khai, giống một mặt rắn chắc nhung thảm bao lấy hành cơ. Nó lông chim hạ cất giấu tinh mịn lông tơ, có thể ngăn cách nước lạnh xâm nhập, chẳng sợ ban đêm mặt nước kết tầng miếng băng mỏng, bị nó bảo vệ địa phương cũng trước sau vẫn duy trì ôn nhuận. Kinh tam lăng hành cán ở nó cánh chim hạ nhẹ nhàng rung động, như là ở đáp lại này phân ấm áp.
Càng thần kỳ chính là nó phân. Những cái đó màu lục đậm lốm đốm rơi vào trong nước, sẽ nháy mắt hóa thành vô số bơi lội chỉ bạc, theo dòng nước chui vào kinh tam lăng căn cần. Này đó “Hóa ứ lốm đốm” giống mini chất xúc tác, có thể làm kinh tam lăng linh lực theo dòng nước khuếch tán đến xa hơn địa phương, thậm chí có thể tinh lọc quanh thân một trượng nội trọc thủy. Có một lần, lân ngạn rong bùng nổ, trọc thủy mắt thấy liền phải mạn lại đây, toàn ứ vịt liên tục ba ngày canh giữ ở biên giới chỗ, phân hóa thành chỉ bạc ở mặt nước dệt thành một trương võng, ngạnh sinh sinh đem trọc thủy chắn bên ngoài, kinh tam lăng chung quanh thuỷ vực trước sau thanh triệt như gương.
Ban đêm khởi phong khi, toàn ứ vịt sẽ đem đầu vùi vào cánh chim, chỉ chừa một đôi mắt cảnh giác mà nhìn quét bốn phía. Nếu có loại cá tới gần kinh tam lăng bộ rễ, nó sẽ đột nhiên ngẩng đầu, phát ra “Cạc cạc” cảnh cáo thanh, thanh âm to lớn vang dội đến có thể kinh chuyển hàng lên bờ biên đêm điểu. Có thứ một cái nửa thước lớn lên hắc ngư ý đồ gặm thực kinh tam lăng căn cần, toàn ứ vịt không nói hai lời xông lên đi, dùng mang lăng cánh hung hăng chụp đánh mặt nước, kích khởi bọt nước đem hắc ngư sợ tới mức vụt ra thật xa, từ nay về sau cũng không dám nữa tới gần.
Nó cánh chim mỗi năm sẽ bóc ra một lần, rơi xuống lông chim chìm vào đáy nước, sẽ chậm rãi hóa thành giàu có linh khí nước bùn, trở thành kinh tam lăng yêu nhất chất dinh dưỡng. Nhiều năm mùa đông đặc biệt lãnh, toàn ứ vịt lông chim rớt đến so năm rồi nhiều, kinh tam lăng lại lớn lên phá lệ sum xuê, hành cán thô tráng một vòng, phiến lá thượng viền vàng cũng càng đậm, như là ở vì toàn ứ vịt chứa đựng qua mùa đông ấm áp.
Này chỉ vịt cũng không là cái gì uy phong thần thú, lại dùng ngày qua ngày quấy, bảo hộ, thành kinh tam lăng bên người nhất đáng tin cậy “Ứ thủy quản gia”. Mỗi khi nó ở mặt nước vẽ ra ngân bạch lăng văn, kinh tam lăng phiến lá liền sẽ nhẹ nhàng lay động, như là ở thấp giọng nói tạ —— chúng nó sớm đã không phải đơn giản cộng sinh, mà là đầm nước chỗ sâu trong, một đôi lẫn nhau thành tựu ông bạn già.
Huyền lăng heo vòi nằm ở huyền ứ bên hồ đá xanh thượng, thân hình tựa heo vòi lại càng hiện thanh tuấn, toàn thân da lông như lưu động màu đen tơ lụa, phiếm thủy quang ánh sáng. Ánh mặt trời dừng ở nó bối thượng, thế nhưng sẽ theo da lông hoa văn uốn lượn chảy xuôi, giống một uông bị nhốt ở thú thân nước chảy. Kỳ lạ nhất chính là nó giữa trán, khảm một khối hình thoi thanh tinh, cùng kinh tam lăng nửa trong suốt lăng hình thân củ xa xa tương đối, phảng phất xài chung cùng phân linh vận.
Sáng sớm ứ linh vụ khí mới từ đáy đàm dâng lên, huyền lăng heo vòi liền chậm rãi trợn mắt. Nó đồng tử là trong sáng màu xanh lơ, ảnh ngược đàm trung kinh tam lăng tinh thể hình dáng. Nó nhẹ nhàng há mồm, một đoàn màu xanh nhạt sương mù từ giữa môi tràn ra, kia đó là “Ứ linh vụ khí” —— sương mù trung di động vô số thật nhỏ lăng hình quang điểm, rơi xuống đất sau nhưng vẫn động ngưng tụ thành bàn tay đại quang phiến, bên cạnh sắc bén như đao, huyền phù ở kinh tam lăng tinh thể chung quanh. Này đó lăng hình quang phiến giống một mặt mặt tiểu kính, đem đáy đàm linh vận chiết xạ đến tinh thể thượng, làm nguyên bản nửa trong suốt thân củ nổi lên tầng tầng thanh quang, lăng sống chỗ duệ tính càng thêm mãnh liệt, liền không khí đều bị cắt ra rất nhỏ vù vù.
Đáy đàm nước bùn hàng năm làm cho cứng, cất giấu ngàn vạn năm ứ linh kết tinh, lại cũng trở ngại kinh tam lăng bộ rễ kéo dài. Huyền lăng heo vòi đứng dậy dạo bước, bốn vó đạp ở bên hồ mềm bùn thượng, mỗi một bước rơi xuống đều kích khởi một vòng thanh mang. Đãi nó nâng đề rời đi, đề ấn chỗ liền sẽ “Ùng ục” toát ra thật nhỏ bọt nước, theo sau một đạo thanh tuyền cột nước đột nhiên từ bùn trung thoán khởi, chừng ba thước cao, cột nước trung lôi cuốn nhỏ vụn ứ khối, rơi vào đàm trung khi đã hóa thành vô hại linh khí. Này đó nước suối trụ như là tinh chuẩn khoan thăm dò khí, chuyên chọn nước bùn dày nhất địa phương cọ rửa, thực mau liền ở đáy đàm lao ra điều điều thủy đạo, kinh tam lăng vòng quay chu chuyển tiền tệ lập tức theo thủy đạo lan tràn, căn tiêm chạm được nước suối khi, thế nhưng phát ra nhỏ vụn “Đùng” thanh, đó là ở nhanh chóng hấp thu trong nước ứ linh tinh hoa.
Chính ngọ thời gian, huyền ứ đàm ứ linh độ dày đạt tới đỉnh núi, đàm mặt nổi lên thanh hắc sắc gợn sóng, đó là tắc nghẽn chi khí sắp ngưng kết dấu hiệu. Huyền lăng heo vòi đột nhiên đứng dậy, vòng quanh kinh tam lăng tinh thể hành tẩu, giữa trán thanh tinh lượng khởi cường quang. Nó mỗi đi ba bước liền phun ra một ngụm ứ linh vụ khí, sương mù rơi xuống đất sau hóa thành xoay tròn quang luân, đem đàm mặt gợn sóng tất cả cắn nát, những cái đó sắp đình trệ tắc nghẽn chi khí bị quang luân nghiền thành bột mịn, một lần nữa dung nhập sương mù trung, trở thành kinh tam lăng chất dinh dưỡng. Có thứ đáy đàm ứ linh kết tinh đột nhiên bạo tẩu, hóa thành một cái màu đen ứ long dục quấn quanh kinh tam lăng bộ rễ, huyền lăng heo vòi đột nhiên nhào vào đàm trung, da lông nháy mắt dựng thẳng lên, hóa thành vô số đứng thẳng lăng hình gai nhọn, cùng ứ long đánh vào cùng nhau. Chỉ nghe “Xuy” một tiếng, ứ long thế nhưng bị gai nhọn cắt thành vô số mảnh nhỏ, dung nhập sương mù trung, mà huyền lăng heo vòi run run da lông, bọt nước vẩy ra, phảng phất cái gì cũng chưa phát sinh.
Sau giờ ngọ ánh mặt trời xuyên thấu sương mù tầng, ở đáy đàm đầu hạ loang lổ quang ảnh. Huyền lăng heo vòi nằm hồi đá xanh, dùng chóp mũi nhẹ cọ kinh tam lăng kéo dài ra vòng quay chu chuyển tiền tệ. Nó hơi thở mang theo mát lạnh hơi nước, có thể mềm hoá căn cần thượng bám vào ngoan ứ, làm vòng quay chu chuyển tiền tệ càng dễ dàng mà xuyên thấu đáy đàm tầng nham thạch. Có căn vòng quay chu chuyển tiền tệ tạp ở khe đá trung khó có thể nhúc nhích, nó liền vươn đầu lưỡi liếm láp khe đá, nước bọt dừng ở trên nham thạch, thế nhưng nổi lên tinh mịn bọt biển, cứng rắn nham thạch dần dần trở nên mềm mại, vòng quay chu chuyển tiền tệ thuận thế toản thấu, phía cuối còn cuốn một tiểu khối lóe quang ứ linh kết tinh, như là cấp huyền lăng heo vòi đáp lễ.
Màn đêm buông xuống khi, huyền lăng heo vòi sẽ đem thân hình dán ở kinh tam lăng tinh thể thượng, da lông cùng tinh thể chạm nhau địa phương nổi lên dung hợp thanh quang. Nó hô hấp trở nên dài lâu, cùng tinh thể nhịp đập dần dần đồng bộ, phảng phất hai người ở cùng chung một phần tim đập. Lúc này đáy đàm ứ linh sẽ theo nó da lông chảy vào tinh thể, mà tinh thể trung tinh thuần linh lực lại sẽ phụng dưỡng ngược lại cấp huyền lăng heo vòi, làm nó giữa trán thanh tinh càng thêm sáng trong. Từng có tu sĩ đêm khuya lẻn vào huyền ứ đàm, tưởng ăn trộm kinh tam lăng tinh thể, mới vừa tới gần bên hồ, liền bị huyền lăng heo vòi quanh thân tán dật lăng quang vết cắt, những cái đó miệng vết thương thế nhưng chảy ra thanh máu đen —— đó là tắc nghẽn chi khí bị mạnh mẽ bài xuất dấu hiệu, sợ tới mức tu sĩ vừa lăn vừa bò mà chạy thoát, từ đây lại không người dám đánh này đàm chủ ý.
Huyền lăng heo vòi cũng không dùng gào rống chương hiển uy nghiêm, lại dùng mỗi một ngụm ứ linh vụ khí, mỗi một đạo nước suối trụ, vì kinh tam lăng dựng nên kiên cố không phá vỡ nổi cái chắn. Đương kinh tam lăng tinh thể ở dưới ánh trăng chiết xạ ra bảy màu lăng quang khi, nó tổng hội ngẩng đầu, nhìn đàm mặt những cái đó chính mình đề ấn sinh ra cột nước, như là ở thưởng thức một bức cộng đồng hoàn thành bức hoạ cuộn tròn. Tại đây huyền ứ đáy đàm, màu đen heo vòi cùng màu xanh lơ lăng tinh gắn bó tương hộ, đem “Hóa ứ” hai chữ, viết thành một đầu lưu động thơ.
Thông ứ cá chép sống ở linh oa, là kinh tam lăng chung quanh thuỷ vực linh khí đầu mối then chốt, nơi đó dòng nước hàng năm trình xoắn ốc trạng xoay tròn, phiếm nhàn nhạt bảy màu vầng sáng. Nó thân hình so tầm thường cẩm lý toàn cục lần, thể trường gần trượng, vảy tầng tầng lớp lớp, mỗi một mảnh đều trình hoàn mỹ hình thoi, ánh mặt trời xuyên thấu mặt nước khi, vảy chiết xạ ra quang mang có thể ở vách đá thượng đầu hạ lưu động quầng sáng, giống vô số đem mini thủy nhận ở vũ động.
Sáng sớm, linh oa dòng nước bắt đầu gia tốc, thông ứ cá chép liền sẽ theo lốc xoáy trung tâm tới lui tuần tra, vây đuôi nhẹ nhàng đong đưa, kéo dòng nước hình thành lớn hơn nữa lực hướng tâm. Nó du qua chỗ, bốn phương tám hướng ứ thủy phảng phất đã chịu lôi kéo, theo linh oa quỹ đạo hội tụ mà đến —— có nơi xa đầm lầy hủ thủy, khe núi đục lưu, thậm chí là ngầm sông ngầm trầm ứ, đều bị nó dẫn đến kinh tam lăng bộ rễ chung quanh. Này đó ứ trong nước ẩn chứa “Ứ linh căn nguyên”, là kinh tam lăng sinh trưởng nhất yêu cầu chất dinh dưỡng, bộ rễ ở trong nước nhẹ nhàng rung động, tham lam mà hấp thu, hành cán thượng lăng văn bởi vậy càng thêm rõ ràng, phiếm ôn nhuận ánh sáng.
Chính ngọ thời gian, nếu có ngoại giới tắc nghẽn chi khí ý đồ quấy nhiễu kinh tam lăng —— hoặc là âm tà tu sĩ phóng thích đục chú, hoặc là trầm tích oán niệm hình thành sương đen —— thông ứ cá chép liền sẽ chợt gia tốc, quanh thân vảy dựng thẳng lên, mỗi phiến hình thoi lân giáp bên cạnh đều nổi lên hàn quang. Nó đột nhiên vẫy đuôi, vô số vảy thoát ly cá thân, hóa thành sắc bén lăng hình thủy nhận, như mưa sao băng bắn về phía mục tiêu. Những cái đó thủy nhận mang theo tinh lọc chi lực, chạm vào đục vật liền sẽ nổ tung, hóa thành tinh mịn hơi nước, đem tắc nghẽn chi khí bao vây, tan rã. Càng kỳ diệu chính là, thủy nhận rơi xuống đất chỗ, sẽ lập tức trào ra một uông linh tuyền, nước suối thanh triệt thấy đáy, theo vách đá chảy xuôi, đi qua chỗ, liền ngoan cố khe đá nước bùn đều bị cọ rửa sạch sẽ, lộ ra phía dưới thanh hắc sắc nham thạch, vừa lúc trở thành kinh tam lăng bộ rễ kéo dài tân đường nhỏ.
Có một lần, một cổ từ cực bắc nơi bay tới “Hàn ứ chi khí” bao phủ linh oa, dòng nước nháy mắt đông lại, kinh tam lăng bộ rễ bị lớp băng bao vây, cơ hồ đình chỉ sinh trưởng. Thông ứ cá chép lập tức du đến linh oa trung tâm, quanh thân vảy bộc phát ra mãnh liệt thất thải quang mang, nó không ngừng dùng thân thể va chạm lớp băng, mỗi một lần va chạm đều chấn vỡ một mảnh mặt băng, đồng thời dẫn động phương nam hải vực ấm ứ thủy. Ấm ứ thủy cùng hàn ứ băng va chạm, bốc hơi khởi đại lượng sương mù, sương mù ngưng kết thành vũ, dừng ở kinh tam lăng phiến lá thượng, băng xác nhanh chóng hòa tan, bộ rễ một lần nữa giãn ra, thậm chí so với phía trước càng thêm thô tráng.
Hoàng hôn khi, thông ứ cá chép sẽ bơi tới kinh tam lăng hành cán bên, dùng phần đầu nhẹ nhàng cọ những cái đó lộ ra mặt nước lăng trạng nhô lên. Nó vảy cùng hành cán lăng văn chạm nhau, sẽ sinh ra rất nhỏ cộng minh, phảng phất ở giao lưu cái gì. Lúc này linh oa dòng nước sẽ trở nên phá lệ vững vàng, trong nước ứ linh căn nguyên ngưng kết thành châu, theo dòng nước lăn hướng bộ rễ, kinh tam lăng liền sẽ vào lúc này nở hoa —— nhỏ vụn màu trắng tiểu hoa từ lăng văn gian nở rộ, hương khí cùng hơi nước hỗn hợp, ở linh oa trên không hình thành nhàn nhạt hương sương mù, thông ứ cá chép liền ở hương sương mù trung xuyên qua, vảy quang mang cùng mùi hoa giao hòa, mỹ đến giống một bức lưu động họa.
Ban đêm, thông ứ cá chép sẽ chìm vào linh oa cái đáy, đem thân thể quay quanh thành xoắn ốc trạng, bảo hộ kinh tam lăng nhất thô tráng rễ chính. Nó hô hấp bằng phẳng, mỗi một lần phun nạp đều làm linh oa dòng nước vẫn duy trì cố định vận tốc quay, phòng ngừa ban đêm âm ứ sấn hư mà nhập. Ngẫu nhiên có lọt lưới tà ám tới gần, còn chưa chạm đến linh oa bên cạnh, liền sẽ bị nó vô ý thức tán dật thủy thế văng ra, hóa thành trong nước bọt biển.
Từng có tu sĩ tò mò, ý đồ bắt giữ thông ứ cá chép, lại phát hiện vô luận dùng loại nào ngư cụ, đều không thể tới gần linh oa ba thước trong vòng —— những cái đó nhìn như nhu hòa dòng nước, kỳ thật giấu giếm vô số lăng hình thủy nhận, tới gần giả chỉ biết bị cắt đến chật vật bất kham. Mà đương tu sĩ từ bỏ rời đi sau, thông ứ cá chép sẽ bơi tới linh oa bên cạnh, phun ra một chuỗi bảy màu bọt khí, phảng phất ở cười nhạo đối phương không biết tự lượng sức mình.
Ở thông ứ cá chép bảo hộ hạ, kinh tam lăng chưa bao giờ nhân tắc nghẽn mà suy bại, ngược lại càng thêm khỏe mạnh. Nó lăng hình hành cán thẳng cắm tận trời, bộ rễ ở linh oa tẩm bổ hạ trải rộng đáy nước, cùng thông ứ cá chép vảy quang mang giao hòa chiếu sáng lẫn nhau, trở thành này phiến thuỷ vực nhất độc đáo sinh cơ tượng trưng. Hai người một tĩnh vừa động, một cương một nhu, đem “Thông ứ” cùng “Tẩm bổ” suy diễn thành một hồi vượt qua năm tháng ăn ý bên nhau.
Lăng nói thần long chiếm cứ Hồng Mông ứ nguyên, là chư thời tiết cơ giao hội đầu mối then chốt, nơi này không có cụ thể hình thái, khi thì hóa thành quay cuồng biển mây, khi thì ngưng vì lưu động ngân hà, chỉ có ba đạo lăng trạng thủy mang trước sau rõ ràng có thể thấy được —— đó là thần long thân hình, thủy mang bên cạnh phiếm sắc bén ngân bạch mũi nhọn, giống dùng hàng tỉ nói thủy nhận ghép nối mà thành, rồi lại lưu động chí nhu ánh sáng, mới vừa cùng nhu ở nó trên người đạt thành hoàn mỹ cân bằng.
Đương vũ trụ nơi nào đó khí cơ tắc nghẽn đạt tới điểm tới hạn, tỷ như nào đó tinh vực linh mạch nhân chấp niệm ngưng kết mà đình trệ, hoặc là nào đó duy độ pháp tắc nhân xung đột mà thắt, lăng nói thần long liền sẽ chậm rãi trợn mắt. Nó đôi mắt là hai luồng xoay tròn lốc xoáy, mắt trái ánh “Ứ” căn nguyên, mắt phải lộ ra “Thông” chân ý, ánh mắt có thể đạt được chỗ, ứ nguyên trung sương mù sẽ tự động ngưng tụ thành tắc nghẽn điểm cụ tượng ảo ảnh.
Lúc này, nó nhẹ nhàng đong đưa long thân, ba đạo lăng trạng thủy mang lập tức nổi lên gợn sóng, đệ nhất đạo thủy mang hóa thành “Thấy rõ lăng”, giống như một đạo xỏ xuyên qua hư thật quang nhận, nháy mắt mổ ra tắc nghẽn trung tâm, hiển lộ ra nhất bản chất mấu chốt —— có lẽ là tu sĩ đột phá khi tạp trụ tâm cảnh hàng rào, có lẽ là tộc đàn tranh đấu tích lũy oán niệm cục u, thậm chí là sao trời vận chuyển khi lệch khỏi quỹ đạo quỹ đạo góc. Đệ nhị đạo thủy mang ngay sau đó hóa thành “Dẫn đường lăng”, dọc theo thấy rõ lăng sáng lập đường nhỏ kéo dài, thủy mang mặt ngoài hiện ra vô số tinh mịn phù văn, đó là vũ trụ gian nhất cơ sở lưu chuyển pháp tắc, có thể theo tắc nghẽn hoa văn, chải vuốt ra một cái thiên nhiên khai thông thông đạo.
Nhất thần kỳ chính là đệ tam đạo thủy mang “Tẩm bổ lăng”, nó không trực tiếp tham dự khơi thông, lại sẽ ở khai thông hoàn thành sau, tưới xuống “Chí nhu thông ứ tuyền” giọt nước. Này đó giọt nước dừng ở bị khơi thông khu vực, sẽ hóa thành thích hợp địa phương sinh cơ sống lại hình thái: Ở hoang vu trên tinh cầu là tẩm bổ thổ nhưỡng linh vũ, ở tu sĩ trong cơ thể là ôn nhuận kinh mạch linh dịch, ở pháp tắc kẽ nứt trung còn lại là bổ khuyết lỗ hổng căn nguyên năng lượng. Từng có một cái nhân chiến tranh mà linh khí khô kiệt tinh hệ, lăng nói thần long chỉ dùng ba đạo thủy mang nhẹ nhàng phất một cái, khô kiệt tinh hạch liền một lần nữa nhịp đập, chết đi hằng tinh chung quanh thậm chí sinh ra tân hành tinh mang, kia đó là tẩm bổ lăng thần lực.
Long tức “Chí nhu thông ứ tuyền” nhìn như ôn hòa, lại ẩn chứa “Lấy nhu thắng cương” chí lý. Đối mặt chư thiên vạn giới ngoan cố nhất khí cơ tắc nghẽn —— tỷ như từ vô số rách nát tín niệm chồng chất mà thành “Chấp niệm sơn”, hoặc là nhân thời không gấp mà hình thành “Hỗn độn kết”, tầm thường lực lượng mạnh mẽ đánh sâu vào sẽ chỉ làm tắc nghẽn càng thêm kiên cố, tới nhu thông ứ tuyền sẽ hóa thành vô số thật nhỏ thủy ti, theo tắc nghẽn khe hở thẩm thấu, giống như mưa xuân thấm vào đại địa, lặng yên không một tiếng động mà tan rã chấp niệm nội hạch, vuốt phẳng hỗn độn nếp uốn. Đãi thủy ti hội tụ thành lưu, tắc nghẽn liền sẽ giống băng tuyết tan rã tan rã, hóa thành tinh thuần năng lượng một lần nữa hối nhập vũ trụ tuần hoàn.
Cùng thông ứ nguyên quân cộng chưởng “Lấy lăng thông ứ” pháp tắc khi, lăng nói thần long ba đạo thủy mang sẽ cùng nguyên quân lăng hình pháp tắc ấn sinh ra cộng minh. Thủy mang hóa thành trong thiên địa nhất khoan ba điều lăng hình thông đạo, nguyên quân thì tại thông đạo tiết điểm chỗ bày ra “Định ứ ấn”, bảo đảm tắc nghẽn chi khí ấn quỹ đạo lưu chuyển, bất trí lại lần nữa trầm tích. Hai người phối hợp cảnh tượng, ở Hồng Mông ứ nguyên trung hình thành một đạo kỳ quan: Ngân bạch thủy mang như cự long xuyên qua, kim sắc lăng ấn như sao trời điểm xuyết, vô số bị khơi thông khí cơ hoá làm lưu quang, dọc theo thông đạo lao nhanh, giống một hồi vượt qua duy độ ngân hà di chuyển.
Từng có vực ngoại tà ma ý đồ lấy “Vĩnh hằng ứ” ô nhiễm Hồng Mông ứ nguyên, đó là một loại có thể đông lại hết thảy lưu chuyển tà lực, nơi đi qua, sao trời đình chuyển, pháp tắc xơ cứng. Lăng nói thần long cùng thông ứ nguyên quân sóng vai mà đứng, ba đạo thủy mang đồng thời bộc phát ra lộng lẫy quang mang, chí nhu thông ứ tuyền cùng lăng hình pháp tắc ấn đan chéo thành một trương bao trùm chư thiên đại võng, tà lực xúc võng tức hóa, liền tà ma bản thể đều bị thủy mang quấn quanh, phân giải thành nhất nguyên thủy năng lượng. Chiến hậu, ứ nguyên bên cạnh sinh ra vô số tân sao trời, mỗi viên sao trời quỹ đạo thượng đều phiếm thủy mang ngân bạch ánh sáng, đó là lăng nói thần long lưu lại bảo hộ ấn ký.
Tầm thường thời điểm, lăng nói thần long rất ít hiển lộ toàn cảnh, đa số thời gian chỉ là ba đạo thủy mang ở Hồng Mông ứ nguyên trung lẳng lặng chảy xuôi, giống như vũ trụ mạch đập. Nhưng chỉ cần khí cơ tắc nghẽn dao động truyền tới nơi này, thủy mang liền sẽ lập tức thức tỉnh, dùng chí nhu lực lượng vuốt phẳng hết thảy nếp uốn. Nó không giống mặt khác thần thú như vậy trương dương, lại bằng căn bản phương thức bảo hộ vũ trụ cân bằng —— rốt cuộc, chân chính thông suốt, cũng không là mạnh mẽ xé rách, mà là làm mỗi một đạo khí cơ đều có thể theo nguồn gốc quỹ đạo, tự tại lưu chuyển.
