Chương 24: chu vận gia hộp

Hừng đông lúc sau ta không có lập tức đi kia đống lâu.

Không có lập tức đi ý tứ là ——

Ta đi trước một chuyến chu vận gia.

Đi chu vận gia ý thức là ——

Ta tưởng nhìn nhìn lại kia quyển sách.

Kia bổn đỗ càng nhảy tràn ngập tên thư.

Kia quyển sách ở chu vận nơi đó.

Ở nhà nàng trong ngăn tủ.

Trong ngăn tủ ý tứ là ——

Ta yêu cầu lại xem một lần những cái đó tên.

Những cái đó tên có thể hay không có manh mối.

Sẽ có 0717 sao?

Sẽ có cái kia đánh số sao?

Sẽ có cái kia bị cắt rớt người sao?

Sẽ có cái kia thanh âm sao?

Sẽ có.

Hoặc là sẽ không có.

Nhưng ta phải đi xem.

Đi.

Ta đứng ở chu vận cửa nhà.

Cửa ý thức là ——

Ta gõ cửa.

Gõ cửa ý thức là ——

Chờ.

Đợi trong chốc lát.

Cửa mở.

Mở cửa ý thức là ——

Chu vận đứng ở trong môn mặt.

Trong môn mặt ý tứ là ——

Nàng nhìn ta.

Nhìn ta ý tứ là ——

Ngươi như thế nào lại tới nữa?

Nhưng ta không có chờ nàng hỏi.

Không có chờ ý thức là ——

Ta nói: Chu dì, ta tưởng nhìn nhìn lại kia quyển sách.

Kia quyển sách.

Kia quyển sách.

Ta nói ra kia ba chữ thời điểm nàng sửng sốt một chút.

Sửng sốt một chút ý thức là ——

Nàng biết ta nói chính là nào quyển sách.

Biết.

Nàng nghiêng đi thân.

Nghiêng đi thân ý thức là ——

Làm ta đi vào.

Đi vào.

Ta đi vào nhà nàng.

Đi vào nhà nàng ý thức là ——

Phòng khách cùng lần trước giống nhau.

Giống nhau.

Trên bàn trà phóng nửa ly trà.

Nửa ly trà ý thức là nàng mới vừa ở uống trà.

Mới vừa ở uống.

Nàng làm ta ngồi xuống.

Ngồi xuống.

Nhưng ta không có ngồi.

Không có ngồi ý thức là ——

Ta đứng ở nơi đó.

Đứng ở nơi đó nhìn nàng.

Nhìn nàng đi hướng kia bài tủ.

Kia bài năm đấu quầy.

Năm đấu quầy là cái loại này kiểu cũ.

Kiểu cũ tủ gỗ.

Đầu gỗ đã cũ.

Cũ.

Cũ đến nhan sắc rất sâu.

Rất sâu.

Nàng ngồi xổm xuống.

Ngồi xổm xuống ý tứ là ở tủ phía trước ngồi xổm.

Ngồi xổm ở nơi đó.

Thân thể của nàng chặn ta tầm mắt.

Ngăn trở ý thức là ——

Nàng ở phiên tầng dưới chót cái kia ngăn kéo.

Tầng dưới chót.

Nhất phía dưới kia một tầng.

Kia một tầng đồ vật bị phiên động.

Phiên động ý thức là ——

Nàng từ bên trong lấy ra một cái đồ vật.

Nhưng cái kia đồ vật không phải thư.

Không phải thư ý thức là ——

Là một cái hộp sắt.

Hộp sắt.

Hộp sắt ——

Cái loại này rỉ sắt hộp sắt.

Rỉ sắt ý tứ là ——

Nó biên giác đã có rỉ sắt.

Rỉ sắt.

Rỉ sắt.

Hộp sắt lớn nhỏ ——

Đại khái một cái bàn tay như vậy đại.

Bàn tay.

Nàng cầm lấy tới thời điểm ——

Ta nhìn đến nàng ngón tay phía dưới đè nặng kia quyển sách.

Kia quyển sách.

Kia bổn màu đen.

Phong bì không có tự.

Kia quyển sách.

Nàng cũng lấy ra tới.

Nhưng nàng trước đem hộp sắt đặt ở trên bàn.

Trước phóng hộp sắt ý tứ là ——

Nàng không nghĩ làm ta trước nhìn đến kia quyển sách.

Không nghĩ làm ta nhìn đến kia quyển sách phía trước trước nhìn đến khác.

Hoặc là ——

Nàng muốn cho ta nhìn đến cái kia hộp sắt.

Nhìn đến hộp sắt ý tứ là ——

Nàng nói: Đây là đồ vật của hắn.

Đồ vật của hắn.

Hắn là ai?

Đỗ càng nhảy.

Đỗ càng nhảy hộp sắt.

Hộp sắt.

Hộp sắt.

Hộp sắt ——

Nàng ý tứ là ——

Đây là đỗ càng nhảy để lại cho nàng.

Để lại cho nàng.

Nàng chưa từng có mở ra quá.

Chưa từng có.

Nàng nói thời điểm đôi mắt nhìn hộp sắt.

Nhìn hộp sắt ý tứ ——

Tay nàng ở mặt trên phóng phóng.

Phóng phóng.

Như là muốn mở ra.

Lại không nghĩ mở ra.

Muốn mở ra lại không nghĩ mở ra ý thức là ——

Nơi đó mặt đồ vật rất quan trọng.

Rất quan trọng.

Quan trọng đến nàng không dám nhìn.

Không dám nhìn đến ý tứ là ——

Nàng đợi 44 năm.

44 năm.

Kia quyển sách nàng nhìn 44 năm.

Mỗi năm phiên.

Mỗi một năm phiên.

Phiên những cái đó tên.

Phiên những cái đó ngày.

Nhưng cái kia hộp sắt.

Cái kia hộp sắt.

Nàng chưa từng có mở ra quá.

Chưa từng có.

Chưa từng có.

Nàng nói: Đây là hắn từ kia phiến trong môn mặt mang ra tới duy nhất đồ vật.

Duy nhất.

Duy nhất ý thức là ——

Hắn quan đi vào phía trước đem cái này giao cho nàng.

Giao cho nàng.

Giao cho nàng thời điểm nói gì đó?

Nàng không nói.

Nàng không nói ý tứ là ——

Đó là một bí mật.

Bí mật.

Bí mật ——

Ta không thể hỏi.

Không thể hỏi ý thức là ——

Đó là chuyện của nàng.

Chuyện của nàng.

Nàng không muốn nói sự.

Nhưng ta thấy được cái kia hộp sắt.

Hộp sắt.

Hộp sắt ở trên bàn.

Ở trên bàn ý tứ là ——

Ta nhìn chằm chằm nó.

Nhìn chằm chằm.

Nàng cũng nhìn chằm chằm.

Nhìn chằm chằm.

Sau đó nàng nói: Ngươi cầm đi đi.

Cầm đi đi.

Cầm đi.

Nàng ý tứ là ngươi đem nó mang đi.

Mang đi.

Mở ra nó.

Nhìn xem bên trong có cái gì.

Xem hắn để lại cái gì.

Nhìn xem ——

Nàng nói những lời này lúc sau đem hộp sắt đẩy lại đây.

Đẩy lại đây ý tứ là ——

Nó tới rồi ta bên này.

Tới rồi ta bên này.

Tay của ta biên.

Ta duỗi tay đi lấy.

Duỗi tay ý thức là ——

Đụng tới cái kia hộp sắt mặt ngoài.

Mặt ngoài.

Rỉ sắt xúc cảm.

Thô lệ.

Thô lệ.

Lạnh băng.

Lạnh băng.

Ta đem hộp sắt cầm lấy tới.

Cầm lấy tới ý thức là ——

Nó thực nhẹ.

Thực nhẹ.

Nhẹ ý thức là ——

Bên trong giống như không có gì đồ vật.

Nhưng là có.

Có cái gì ở bên trong đong đưa.

Đong đưa.

Nhẹ nhàng đong đưa.

Ta lắc lắc.

Diêu.

Bên trong có cái gì tiếng vang.

Tiếng vang.

Trang giấy tiếng vang.

Trang giấy.

Một trương giấy.

Hoặc là mấy trương.

Trang giấy.

Ta đem hộp sắt bỏ vào ta trong bao.

Bỏ vào đi ý thức là ——

Ta ngẩng đầu.

Ngẩng đầu.

Nhìn về phía chu vận.

Nhìn về phía.

Nàng đôi mắt là hồng.

Hồng.

Nàng không có khóc.

Nhưng nàng đỏ.

Đỏ.

Nàng quay mặt qua chỗ khác.

Quay mặt qua chỗ khác ý thức là ——

Nàng không nghĩ làm ta nhìn đến nàng như vậy.

Như vậy.

Ta nói: Chu dì, ta đi rồi.

Ta đi rồi.

Nàng nói: Ân.

Ân.

Nàng đưa ta đi tới cửa.

Đi tới cửa.

Cửa.

Nàng đứng ở khung cửa.

Khung cửa ý tứ là ——

Nàng nhìn ta.

Nhìn.

Nàng nói: Ngươi phải cẩn thận.

Phải cẩn thận.

Cẩn thận ý thức là ——

Kia đống lâu.

Những cái đó tủ.

Những cái đó hồ sơ.

Những cái đó ——

Nàng không biết đồ vật.

Không biết.

Nhưng nàng ở thay ta lo lắng.

Lo lắng.

Ta nói: Ta đã biết.

Đã biết.

Ta đi xuống thang lầu.

Đi xuống thang lầu ý thức là ——

Ta vừa đi một bên sờ trong bao cái kia hộp sắt.

Hộp sắt.

Nó ở nơi đó.

Ở.

Ở.

Ta đi ra đơn nguyên môn.

Đi ra đơn nguyên môn ý thức là ——

Bên ngoài có ánh mặt trời.

Có ánh mặt trời.

Ánh sáng mặt trời chiếu ở kia đống trên lầu.

Lâu.

Đơn nguyên môn.

Ngõ nhỏ.

Đầu ngõ chuyển biến.

Chuyển biến.

Kia đống lâu ở sau lưng.

Sau lưng ý thức là ——

Chu vận còn ở kia phiến phía sau cửa.

Ở.

Nàng đứng ở cửa.

Đứng yên thật lâu.

Ta đi rồi lúc sau nàng còn ở nơi đó đứng.

Đứng.

Những cái đó bí mật.

Những cái đó nàng thủ 44 năm bí mật.

Những cái đó cửa sắt mặt sau đồ vật.

Những cái đó nàng không dám mở ra hộp sắt.

Nàng đem chúng nó giao cho ta.

Cho.

Ta cầm hộp sắt đi phía trước đi.

Đi phía trước đi.

Đi đến một cái có thể ngồi địa phương.

Ngồi xuống ý thức là ——

Ta muốn mở ra nó.

Muốn mở ra.

Muốn.

Ta đem hộp sắt đặt ở trước mặt ghế đá thượng.

Ghế đá.

Công viên.

Công viên ghế dài.

Ghế dài.

Tay.

Ngón tay.

Ngón tay đụng tới hộp sắt nút thắt.

Nút thắt.

Cái loại này kiểu cũ yếm khoá.

Yếm khoá.

Ta dùng sức ấn một chút.

Ấn.

Yếm khoá văng ra.

Văng ra.

Văng ra thanh âm là ——

Ca.

Ca một tiếng.

Ca.

Kia một tiếng ở an tĩnh công viên.

Ở.

Ta nâng lên cái nắp.

Nâng lên.

Hộp sắt cái nắp cùng hộp thân chi gian khe hở.

Khe hở.

Bên trong đồ vật lộ ra tới.

Lộ ra tới.

Một trương giấy.

Một trương điệp tốt giấy.

Giấy là hoàng.

Hoàng.

Thực cũ.

Thực cũ.

Thực cũ.

Ta đem nó cầm lấy tới.

Cầm lấy tới.

Triển khai.

Triển khai.

Triển khai.

Trên giấy viết tự.

Tự.

Viết tay tự.

Viết tay.

Kia một hàng tự viết ——

Nhớ kỹ.

Chỉ có hai chữ.

Nhớ kỹ.

Nhớ kỹ ——

Lại là một cuốn vở thượng kia hai chữ.

Lại là.

Lại là.

Nhưng tại đây tờ giấy thượng ——

Này hai chữ viết ở bên trong.

Viết ở chính giữa.

Chính giữa.

Giấy bốn cái giác đều là trống không.

Trống không.

Chỉ có này hai chữ.

Nhớ kỹ.

Ta lật qua tới xem phản diện.

Phản diện.

Phản diện ——

Phản diện cũng viết tự.

Tự.

Này một mặt viết chính là ——

Bọn họ đem ta giam lại.

Bọn họ đem ta giam lại.

Này sáu cái tự.

Sáu cái tự.

Bọn họ đem ta giam lại.

Ta nhìn chằm chằm này một hàng tự xem.

Nhìn chằm chằm.

Xem.

Đây là đỗ càng nhảy viết.

Là.

Là hắn viết.

Bị nhốt lại phía trước viết.

Vẫn là bị nhốt lại lúc sau viết?

Không biết.

Không biết.

Nhưng hắn ở viết.

Hắn ở viết.

Hắn ở ký lục.

Ký lục.

Đem này sáu cái tự viết tại đây tờ giấy thượng.

Này tờ giấy thượng.

Giấy.

Này tờ giấy ở cái kia hộp sắt.

Hộp sắt.

Thả 44 năm.

44 năm.

44 năm.

Hắn đem này tờ giấy giao cho chu vận.

Giao cho nàng ý tứ là ——

Hắn đem cái này lưu tại bên ngoài.

Bên ngoài.

Hắn đi vào.

Hắn tiến kia phiến cửa sắt.

Hắn ở đi vào phía trước để lại cái này.

Để lại.

Để lại cho chu vận.

Để lại cho ——

Để lại cho về sau.

Về sau.

Về sau một ngày nào đó.

Một ngày nào đó có người sẽ mở ra cái này hộp sắt.

Sẽ nhìn đến này tờ giấy.

Sẽ nhìn đến này hai chữ.

Nhớ kỹ.

Nhớ kỹ.

Cùng kia sáu cái tự.

Bọn họ đem ta giam lại.

Bọn họ đem ta giam lại.

Ta ngồi ở công viên ghế dài thượng.

Ngồi ở.

Trong tay cầm kia tờ giấy.

Kia tờ giấy ở thái dương hạ.

Dưới ánh nắng.

Quang xuyên thấu qua giấy bối.

Giấy bối.

Giấy hoa văn.

Hoa văn.

Giấy sợi.

Sợi.

Kia sáu cái tự ở quang.

Ở quang trở nên có chút trong suốt.

Trong suốt.

Trong suốt.

Ta nhìn chằm chằm kia sáu cái tự.

Nhìn chằm chằm.

Nhìn thật lâu.

Thật lâu.

Sau đó ta đem giấy điệp lên.

Điệp.

Thả lại hộp sắt.

Hộp sắt.

Đắp lên cái nắp.

Đắp lên.

Yếm khoá khấu thượng thanh âm.

Ca.

Khấu thượng.

Khấu thượng.

Ta đem hộp sắt thả lại trong bao.

Thả lại.

Đứng lên.

Đứng lên.

Hướng kia đống lâu phương hướng đi.

Hướng.

Đi.

Kia tờ giấy thượng sáu cái tự ở ta trong đầu.

Trong đầu.

Bọn họ đem ta giam lại.

Bọn họ đem ta giam lại.

Hiện tại ta đã biết.

Đã biết.

Đỗ càng nhảy không phải người bệnh.

Hắn không phải người bệnh.

Hắn là bị quan đi vào.

Bị quan đi vào.

Bị quan đi vào ——

Bị ai?

Bị Thẩm bạch xuyên sao?

Vẫn là những người khác?

Những người khác.

Kia đống lâu.

Những cái đó bác sĩ.

Những cái đó hộ công.

Những cái đó lam chế phục người.

Lam chế phục người.

Năm 1981.

Ba tháng.

Ngày 12 tháng 3.

Cái kia ngày.

Cái kia ngày.

Hắn đi vào cùng ngày liền hoả táng.

Hoả táng.

Hồ sơ thượng nói hoả táng.

Hoả táng ý tứ là ——

Nhưng chu vận nói không có.

Không có.

Kia quyển sách tên còn sống.

Tồn tại.

44 năm.

Hắn ở bên trong.

Ở bên trong.

Chờ.

Chờ có người tới tìm hắn.

Chờ có người tới ——

Chờ ta tới.

Ta tới.

Ta đi được càng nhanh.

Càng mau.

Càng mau.

Đi tới kia tòa sơn hạ.

Kia tòa sơn ở trước mặt ta.

Trước mặt.

Ta ngẩng đầu xem.

Xem kia tòa sơn.

Kia tòa sơn thượng có một đống lâu.

Lâu hình dáng.

Lâu hình dáng ở sau thân cây mặt.

Ở sau thân cây mặt như ẩn như hiện.

Như ẩn như hiện ý tứ là ——

Ta biết nó đang đợi ta.

Đang đợi ta tới.

Chờ ta tới mở ra kia phiến cửa sắt.

Mở ra tầng hầm.

Mở ra những cái đó tủ.

Mở ra 0717.

Mở ra cái kia màu đen thiết quầy.

Mở ra ——

Nhưng ta không có trực tiếp lên núi.

Không có trực tiếp thượng ý tứ là ——

Ta ở dưới chân núi đứng trong chốc lát.

Đứng trong chốc lát.

Ta trong bao.

Trong bao có cái kia hộp sắt.

Hộp sắt kia tờ giấy.

Trên giấy tự.

Nhớ kỹ.

Nhớ kỹ.

Bọn họ đem ta giam lại.

Bọn họ đem ta giam lại.

Còn có một cái đồ vật.

Còn có một cái đồ vật ở trong bao ——

Kia quyển sách.

Kia bổn đỗ càng nhảy tràn ngập tên thư.

Chu vận giao cho ta.

Cũng giao cho ta.

Nàng làm ta đem chúng nó đều mang đi.

Đều mang đi.

Nàng nói: Này đó đặt ở ta nơi này lâu lắm.

Lâu lắm.

Hẳn là ngươi cầm.

Ngươi cầm.

Ngươi tuổi tác.

Ngươi ——

Nàng nói lời này thời điểm ánh mắt không giống nhau.

Không giống nhau ý tứ là ——

Nàng lỏng.

Lỏng.

Như là buông xuống cái gì.

Như là một cái tay nải.

Một cái nàng bối 44 năm tay nải.

Buông xuống.

Buông xuống.

Ta hiện tại cõng cái kia tay nải.

Cõng.

Trong bao quần áo đồ vật ——

Cái kia hộp sắt.

Kia quyển sách.

Kia đem chìa khóa.

Những cái đó hồ sơ.

Kia bức ảnh.

Kia trương cắt rớt một người ảnh chụp.

Những cái đó ký ức.

Những cái đó thiết quầy.

Những cái đó đánh số.

0717.

Trong bao quần áo đồ vật càng ngày càng nhiều.

Càng ngày càng nhiều.

Càng ngày càng nhiều.

Ta đi đến lên núi giao lộ.

Lên núi giao lộ.

Con đường kia.

Con đường kia ta đi qua rất nhiều lần.

Rất nhiều lần.

Quen thuộc.

Quen thuộc.

Quen thuộc ý tứ là ta bước chân tự động biết đi như thế nào.

Ta chân biết.

Nó chính mình đi.

Chính mình đi.

Đi đến giữa sườn núi thời điểm ta dừng lại.

Dừng lại.

Dừng lại là bởi vì ——

Ta nghe thấy được một thanh âm.

Thanh âm.

Cái kia thanh âm.

Không phải từ băng từ tới.

Là từ trên núi tới.

Trên núi.

Vọng Nguyệt Lâu phương hướng.

Kia đống lâu phương hướng.

Có một thanh âm.

Không.

Không phải thanh âm.

Là một loại cảm giác.

Cảm giác.

Một loại quen thuộc cảm giác.

Cảm giác ý tứ là ——

Ta đang tới gần một chỗ.

Nơi đó ta khi còn nhỏ đi qua.

Khi còn nhỏ.

Rất nhiều lần.

Rất nhiều lần.

Ta bước chân chậm lại.

Chậm lại.

Chậm lại.

Sau đó ta tiếp tục đi.

Tiếp tục.

Đi đến kia đống lâu phía trước.

Lâu phía trước.

Những cái đó xích sắt.

Những cái đó khóa.

Những cái đó rỉ sắt khóa.

Cái kia cửa sắt.

Trên cửa sắt xích sắt.

Ta lấy ra chìa khóa.

Lấy ra tới.

Kia đem hoàn chỉnh chìa khóa.

Hoàn chỉnh.

Thượng một lần ta dùng nó mở cửa.

Khai.

Đi vào.

Xuống lầu.

Mở ra những cái đó tủ.

Những cái đó hồ sơ.

Hiện tại ta lại tới nữa.

Lại tới nữa.

Dùng cùng đem chìa khóa.

Cùng đem.

Chìa khóa cắm vào ổ khóa.

Cắm vào đi.

Chuyển động.

Ca.

Khóa khai.

Xích sắt rơi trên mặt đất.

Rơi trên mặt đất.

Thiết tiếng vang.

Tiếng vang.

Ta đẩy cửa ra.

Đẩy ra.

Cửa mở.

Cửa mở ý tứ là ——

Ta đi vào đi.

Đi vào đi.

Bước vào kia đống lâu đại sảnh.

Đại sảnh.

Ánh sáng tối sầm.

Tối sầm.

Từ bên ngoài tiến vào đôi mắt yêu cầu thích ứng.

Thích ứng.

Thích ứng thời gian.

Thời gian.

Ta đứng ở giữa đại sảnh.

Đứng ở.

Trong đại sảnh còn có những cái đó cũ gia cụ.

Cũ gia cụ.

Những cái đó bị vứt bỏ tủ.

Cái bàn.

Ghế dựa.

Tro bụi.

Tro bụi hương vị.

Hương vị.

Ta bước chân ở hôi thượng lưu lại dấu chân.

Dấu chân.

Ta đi qua đại sảnh.

Đi hướng hành lang.

Hành lang.

Kia phiến cửa sắt.

Cửa sắt.

Tầng hầm nhập khẩu.

Nhập khẩu.

Ta đi đến kia phiến cửa sắt trước.

Cửa sắt trước.

Kia đem chìa khóa.

Kia đem chìa khóa cắm vào ổ khóa.

Cắm vào đi.

Chuyển động.

Ca.

Khai.

Khai.

Ta kéo ra môn.

Kéo.

Cửa mở lúc sau là một cái bậc thang.

Bậc thang.

Đi xuống.

Đi xuống.

Hắc ám.

Hắc ám.

Ta khai di động đèn pin.

Đèn pin quang.

Quang đánh vào cái kia bậc thang.

Bậc thang.

Từng bước một đi xuống dưới.

Đi xuống.

Đi xuống.

Tới rồi tầng hầm.

Tầng hầm.

Những cái đó thiết quầy.

Những cái đó thiết quầy còn ở nơi đó.

Còn ở.

Vẫn là kia bài.

Kia bài tủ.

Tủ đánh số.

Đánh số.

Ta dọc theo tủ đi.

Dọc theo.

Từ cái thứ nhất bắt đầu.

Cái thứ nhất.

Đánh số 0001.

0001.

Đi qua 0002.

0003.

0004.

Ta đi được rất chậm.

Rất chậm.

Bởi vì ta đôi mắt đang xem những cái đó đánh số.

Những cái đó đánh số cùng ta trong mộng đánh số giống nhau.

Giống nhau.

Giống nhau.

0005.

0006.

0007.

0008.

0009.

0010.

Ta bước chân ở mỗi một cái đánh số phía trước đình một chút.

Đình một chút.

Không phải vì nhìn cái gì.

Là vì xác nhận.

Xác nhận ta ở đi.

Ở đi.

Ở đi hướng cái kia đánh số.

Cái kia đánh số ——

0717.

Cái kia dãy số ở ta trong đầu.

Trong đầu.

Ta tiếp tục đi.

Tiếp tục.

0020.

0030.

0040.

Những cái đó đánh số ở ta đi đường trong quá trình từng cái qua đi.

Từng cái.

Nhất nhất.

Ta hô hấp biến nhanh.

Nhanh.

Tim đập nhanh.

Nhanh.

Đèn pin quang đang run rẩy.

Run rẩy.

Bởi vì ta thấy được một cái màu đen tủ.

Màu đen.

Ở nơi xa.

Ở kia một loạt tủ cuối.

Cuối.

Màu đen hình dáng.

Hình dáng.

Màu đen thiết quầy.

Màu đen.

Nó là duy nhất một cái màu đen.

Chỉ có nó là màu đen.

Nó đứng ở nơi đó.

Đứng ở nơi đó.

Giống đang đợi ta.

Chờ ta.

Chờ ta ——

Ta đi đến nó trước mặt.

Trước mặt.

Ta quang đánh vào nó cửa tủ thượng.

Cửa tủ thượng.

Cửa tủ thượng đánh số.

0717.

Chính là nó.

Chính là nó.

Chính là ta khi còn nhỏ kéo qua kia một cái.

Kia một cái.

Cửa tủ không có khóa.

Không có khóa.

Cùng trong trí nhớ giống nhau.

Không có khóa.

Nhưng nó mở không ra.

Mở không ra.

Ta duỗi tay.

Duỗi tay.

Nắm lấy cái kia bắt tay.

Bắt tay.

Thiết bắt tay.

Lạnh lẽo bắt tay.

Lạnh lẽo.

Ta dùng sức kéo.

Kéo.

Cửa tủ không chút sứt mẻ.

Không chút sứt mẻ.

Bất động.

Không có khóa.

Nhưng kéo không ra.

Kéo không ra.

Nó tạp trụ.

Tạp trụ.

Hoặc là giống ta tưởng như vậy.

Bị hạn đã chết.

Hạn chết.

Nhưng ta có công cụ.

Công cụ.

Ta từ trong bao lấy ra cạy côn.

Cạy côn.

Thiết cạy côn.

Cạy côn cắm vào cửa tủ cùng quầy thể chi gian khe hở.

Khe hở.

Cắm vào đi.

Sau đó ta dùng sức.

Dùng sức.

Cạy.

Cạy.

Ca ——

Ca một tiếng.

Ca.

Cửa tủ bên cạnh biến hình.

Biến hình.

Lại đến.

Lại đến.

Ta dùng toàn thân trọng lượng đè ở cạy côn thượng.

Toàn thân trọng lượng.

Áp.

Ca ——

Ca ——

Ca ——

Cửa tủ khai.

Khai.

Không phải khóa.

Không phải khóa.

Là cửa tủ bản thân bị thứ gì ngăn chặn.

Ngăn chặn.

Bên trong có thứ gì chống được môn.

Chống đỡ.

Mở ra thời điểm ——

Bên trong đồ vật ra tới.

Ra tới.

Từ trong ngăn tủ rớt ra tới.

Rớt ra tới.

Rơi trên mặt đất.

Rơi trên mặt đất chính là ——

Một mâm băng từ.

Băng từ.

Băng từ.

Một mâm kiểu cũ băng từ.

Băng từ.

Xác ngoài là màu đen.

Màu đen.

Mặt trên dán một trương màu trắng nhãn.

Màu trắng nhãn.

Trên nhãn viết tự.

Tự.

Ta ngồi xổm xuống.

Ngồi xổm xuống.

Nhặt lên kia bàn băng từ.

Nhặt lên.

Đèn pin chiếu sáng ở trên nhãn.

Trên nhãn tự là ——

Trần mặc.

Trần mặc.

Tên của ta.

Tên của ta.

Ta nhìn chằm chằm kia hai chữ xem.

Nhìn chằm chằm.

Nhìn thật lâu.

Thật lâu.

Thật lâu.

Này bàn băng từ.

Này bàn băng từ thượng nhãn viết tên của ta.

Viết.

Trần mặc.

Trần mặc.

Này bàn băng từ ——

Nó đang đợi ta.

Đang đợi ta.

Ta đem nó lật qua tới.

Lật qua tới.

Phản diện.

Phản diện ——

Không có tự.

Không có tự.

Nhưng có một cái đánh số.

Đánh số.

0717.

0717.

Cùng cửa tủ đánh số nhất trí.

Nhất trí.

Này bàn băng từ ——

Là cho ta.

Cho ta.

Là để lại cho ta.

Để lại cho ta.

Ta ngồi xổm ở tầng hầm ngầm.

Ngồi xổm.

Trong tay cầm kia bàn băng từ.

Cầm.

Di động chiếu sáng tên của ta.

Chiếu.

Trần mặc.

Trần mặc.

Tên của ta ở kia trương trên nhãn.

Ở ta trước mắt.

Ở ngón tay của ta gian.

Ở ta ——

Ta đem nó bỏ vào trong bao.

Bỏ vào đi.

Bỏ vào cái kia hộp sắt bên cạnh.

Bên cạnh.

Cùng kia quyển sách đặt ở cùng nhau.

Đặt ở cùng nhau.

Sau đó ta đứng lên.

Đứng lên.

Đóng lại di động.

Đóng lại.

Nhưng ta không có đi.

Không có đi.

Bởi vì không có đi.

Bởi vì ta biết ——

Cái này trong ngăn tủ còn có khác.

Còn có.

Không ngừng này một mâm băng từ.

Không ngừng.

Ta đem tay vói vào tủ.

Vói vào đi.

Ở bên trong sờ.

Sờ.

Bên trong có cái gì.

Đồ vật.

Là băng từ.

Càng nhiều băng từ.

Một mâm một mâm.

Một mâm một mâm mà điệp.

Điệp.

Ta đem chúng nó toàn bộ lấy ra tới.

Toàn bộ.

Toàn bộ lấy ra tới.

Đại khái có mười mấy bàn.

Mười mấy bàn.

Mỗi một mâm đều dán nhãn.

Trên nhãn viết bất đồng tên.

Bất đồng tên.

Không phải trần mặc.

Là những người khác tên.

Những người khác.

Những người đó ——

Bọn họ thanh âm ở này đó băng từ.

Ở.

Bọn họ thanh âm.

Những cái đó thanh âm.

Những cái đó ta khi còn nhỏ nghe qua thanh âm.

Những cái đó ở trong mộng xuất hiện thanh âm.

Những cái đó ——

Ta hiện tại tìm được chúng nó.

Tìm được rồi.

Ta ngồi ở bậc thang.

Ngồi ở.

Những cái đó băng từ đặt ở ta trên đùi.

Trên đùi.

Ta trên đùi là những cái đó băng từ.

Những cái đó băng từ thượng là những người đó tên.

Những người đó tên ở trên nhãn.

Ở.

Ta cầm lấy một mâm.

Cầm lấy.

Trên nhãn viết ——

Lưu quế phương.

Lưu quế phương.

Tên này.

Tên này chu vận kia quyển sách có.

Có.

Ta cầm lấy một khác bàn.

Trên nhãn ——

Vương đức thắng.

Vương đức thắng.

Cũng có.

Cũng có.

Lại lấy một mâm.

Trên nhãn ——

Triệu tú lan.

Triệu tú lan.

Cũng có.

Đều ở.

Đều ở.

Những cái đó tên.

Những cái đó đỗ càng nhảy nhớ kỹ tên.

Những cái đó bị viết ở trong sách tên.

Những người đó thanh âm.

Những người đó chuyện xưa.

Đều tại đây.

Đều tại đây.

Ở trong tay ta.

Ở trong tay ta.

Ta ở tầng hầm ngầm bậc thang ngồi thật lâu.

Thật lâu.

Ngồi thật lâu.

Tay của ta đèn pin sắp hết pin rồi.

Sắp hết pin rồi.

Quang ở trở tối.

Trở tối.

Ta đứng lên.

Đứng lên.

Đem những cái đó băng từ cất vào trong bao.

Trang.

Chứa đầy.

Chứa đầy.

Ta bối thượng bao.

Bối thượng.

Đi lên bậc thang.

Đi lên.

Đi ra kia phiến cửa sắt.

Đi ra.

Đi ra kia đống lâu.

Đi ra.

Bên ngoài là buổi chiều quang.

Buổi chiều.

Quang.

Ánh mặt trời.

Ánh mặt trời rơi tại kia tòa sơn thượng.

Trên núi.

Ta đứng ở kia đống lâu trước.

Đứng ở.

Quay đầu lại xem kia đống lâu.

Quay đầu lại.

Kia đống lâu ở quang.

Lâu.

Nó nhìn thực cũ.

Thực cũ.

Thực an tĩnh.

An tĩnh.

Nó bí mật.

Nó những cái đó bí mật ——

Hiện tại ở ta trong bao.

Ở.

Ở trong bao.

Ta xoay người.

Xoay người.

Hướng dưới chân núi đi.

Hướng.

Đi.

Xuống núi lộ ở ta dưới chân.

Dưới chân.

Ta bước chân gần đây thời điểm mau.

Mau.

Gần đây thời điểm mau.

Gần đây thời điểm càng xác định.

Xác định.

Ta trong bao là những cái đó thanh âm.

Những cái đó thanh âm.

Những cái đó bị đóng lâu lắm thanh âm.

Những cái đó thanh âm.

Hiện tại ——

Chúng nó đi theo ta xuống núi.

Xuống núi.

Đi có người địa phương.

Đi ——

Kia bàn viết tên của ta băng từ.

Ta cầm nó đi rồi rất dài một đoạn đường.

Rất dài một đoạn đường ý tứ là ——

Ta không có lập tức về nhà.

Không có lập tức về nhà.

Ta ở trên phố đi.

Đi.

Ta trong bao là những cái đó băng từ.

Mười mấy bàn.

Hơn nữa kia bàn viết trần mặc.

Hơn nữa cái kia hộp sắt.

Hơn nữa kia quyển sách.

Hơn nữa kia đem chìa khóa.

Hơn nữa ——

Những cái đó không ở ta trong bao đồ vật.

Ở trong đầu.

Ở trong trí nhớ.

Trước kia không biết đồ vật.

Hiện tại đã biết.

Biết đến đồ vật ——

Biết đỗ càng nhảy là bị nhốt lại.

Biết hắn không phải người bệnh.

Biết hắn là bị đưa vào đi.

Biết có người muốn cho hắn biến mất.

Biết hắn để lại những cái đó tên.

Biết hắn để lại kia bàn băng từ.

Kia bàn băng từ.

Kia bàn viết tên của ta băng từ.

Kia bàn băng từ đang đợi ta.

Chờ ta tìm được nó.

Chờ ta mở ra nó.

Chờ ta nghe được bên trong thanh âm.

Nó đợi bao lâu?

Bao lâu?

Hơn hai mươi năm.

Từ ta bị mang tiến kia đống lâu ngày đó.

Từ ta bị mang tiến cái kia phòng nhỏ.

Từ những người đó cho ta phóng băng từ nghe.

Từ những cái đó băng từ thanh âm tiến vào ta trong đầu.

Từ lúc ấy.

Nó liền tồn tại sao?

Nó liền ở cái kia trong ngăn tủ sao?

Nó liền vẫn luôn chờ ta tới lấy sao?

Ta đi không đặng.

Đi không đặng.

Ta ở ven đường bậc thang ngồi xuống.

Ngồi xuống.

Đem bao đặt ở trên đùi.

Đặt ở trên đùi.

Kéo ra khóa kéo.

Kéo ra.

Tay của ta vói vào đi.

Vói vào đi.

Sờ đến kia bàn băng từ.

Băng từ lạnh lẽo.

Lạnh lẽo.

Ta đem nó lấy ra tới.

Ra tới.

Cầm ở trong tay.

Trong tay.

Kia bàn băng từ ở dưới đèn đường.

Đèn đường.

Trời sắp tối rồi.

Đen.

Đèn đường sáng.

Đèn đường chỉ là màu vàng.

Màu vàng.

Màu vàng chiếu sáng ở băng từ thượng.

Băng từ thượng tên của ta.

Trần mặc.

Trần mặc.

Tên của ta.

Ta đang xem tên của mình.

Đang xem.

Tên phía dưới còn có một hàng chữ nhỏ.

Chữ nhỏ.

Viết tay.

Viết tay.

Rất nhỏ tự.

Nhỏ đến muốn xem cẩn thận mới có thể thấy rõ.

Tài năng.

Kia hành chữ nhỏ viết chính là ——

Ngươi là duy nhất có thể nghe thấy người.

Ngươi là duy nhất có thể nghe thấy người.

Duy nhất.

Duy nhất.

Có thể nghe thấy người.

Có thể nghe thấy người.

Ta đem kia hành tự đọc vài biến.

Vài biến.

Duy nhất.

Duy nhất.

Có thể nghe thấy người.

Có thể nghe thấy người.

Có ý tứ gì?

Có ý tứ gì?

Vì cái gì là ta?

Vì cái gì là duy nhất?

Những cái đó băng từ ta khi còn nhỏ nghe qua.

Nghe qua rất nhiều.

Nhưng vì cái gì ——

Vì cái gì này bàn không giống nhau?

Vì cái gì nó là viết cho ta?

Vì cái gì này bàn băng từ phải chờ ta lớn lên về sau mới có thể bắt được?

Mới có thể bắt được?

Mới có thể ——

Tay của ta ở run.

Ở run.

Sau đó ta đứng lên.

Đứng lên.

Đem băng từ thả lại trong bao.

Thả lại.

Kéo lên khóa kéo.

Kéo lên.

Cõng bao đi.

Đi.

Nhưng ta không có về nhà.

Không có về nhà.

Ta đi lâm lam nơi đó.

Đi.

Lâm lam.

Lâm lam ở trong tối trong phòng.

Ám phòng.

Nàng nhìn đến ta thời điểm ngây ngẩn cả người.

Ngây ngẩn cả người.

Bởi vì ta sắc mặt không đúng.

Sắc mặt không đúng.

Nàng hỏi: Ngươi làm sao vậy?

Làm sao vậy ý thức là ——

Ta đem bao mở ra.

Mở ra.

Lấy ra kia bàn băng từ.

Băng từ.

Đặt ở nàng trước mặt.

Trước mặt.

Nàng nói: Đây là cái gì?

Đây là ——

Ta nói: Tên của ta.

Tên.

Nàng cúi đầu xem.

Cúi đầu.

Kia hành chữ nhỏ.

Kia hành chữ nhỏ nàng thấy.

Thấy.

Nàng ngẩng đầu xem ta.

Ngẩng đầu.

Nàng nói: Duy nhất có thể nghe thấy người.

Duy nhất có thể nghe thấy người.

Nàng ở niệm kia hành tự.

Niệm.

Sau đó nàng nói ——

Ngươi muốn hay không nghe một chút.

Muốn hay không nghe.

Nghe.

Nghe kia bàn băng từ.

Kia bàn băng từ thanh âm.

Cái kia thanh âm.

Cái kia kêu lên tên của ta thanh âm.

Cái kia băng từ chờ ta thanh âm.

Ta đợi cả ngày.

Từ bắt được đến bây giờ.

Ta vẫn luôn không dám nghe.

Không dám.

Ta không dám.

Không dám.

Sợ cái gì?

Sợ cái kia thanh âm.

Sợ nó nói ra một ít ta không muốn nghe đến nói.

Sợ nó nói ra một ít ta không biết sự.

Sợ nó ——

Nhưng lâm lam nói: Ngươi lấy tới chính là chuẩn bị hảo.

Chuẩn bị hảo.

Chuẩn bị hảo.

Ta nói: Ta không chuẩn bị hảo.

Không chuẩn bị hảo.

Nàng nói: Vậy trước phóng.

Phóng.

Phóng tới ngươi chuẩn bị hảo.

Chuẩn bị hảo.

Nàng giúp ta đem băng từ thu hồi tới.

Thu hồi tới.

Bỏ vào nàng ám trong phòng trong ngăn kéo.

Ngăn kéo.

Nàng nói: Cái này ngăn kéo ta khóa.

Khóa.

Chờ ngươi tới bắt.

Chờ ngươi tới nghe.

Chờ ngươi nghĩ kỹ rồi.

Nghĩ kỹ rồi.

Ta nhìn nàng khóa lại ngăn kéo.

Khóa lại.

Nàng đem chìa khóa bỏ vào chính mình túi.

Túi.

Nàng nói: Ta sẽ không nghe.

Ta sẽ không.

Này là của ngươi.

Ngươi.

Chỉ có ngươi có thể nghe.

Chỉ có ngươi.

Nàng nói chuyện ngữ khí thực bình tĩnh.

Bình tĩnh.

Bình tĩnh đến giống nàng biết kia bàn băng từ là cái gì.

Nhưng ta biết nàng không biết.

Không biết.

Nàng chỉ là tin tưởng ta.

Tin tưởng ta.

Ta nhìn nàng.

Nàng nói: Ngươi ăn cơm sao?

Ăn cơm.

Không ăn.

Nàng đi đến phòng bếp.

Phòng bếp.

Cho ta hạ một chén mì.

Mặt.

Ta ngồi ở nhà nàng cái bàn trước.

Bàn.

Kia chén mì ở trước mặt.

Mạo nhiệt khí.

Nhiệt khí.

Ta cầm lấy chiếc đũa.

Cầm lấy.

Ăn kia chén mì.

Ăn.

Kia chén mì hương vị.

Hương vị.

Bình thường.

Bình thường hương vị.

Nhưng nàng ngồi ở ta đối diện.

Đối diện.

Nàng nhìn ta ăn.

Nhìn.

Ta không nói chuyện.

Nàng cũng không nói chuyện.

Chúng ta cứ như vậy ngồi.

Ngồi.

Bên ngoài trời tối.

Đen.

Hoàn toàn đen.

Ta ăn xong mặt.

Ăn xong.

Nàng nói: Đêm nay đừng đi trở về.

Đừng đi trở về.

Ngủ sô pha.

Sô pha.

Ta nói ân.

Ân.

Ta nằm ở trên sô pha.

Nằm ở.

Nhắm mắt lại.

Nhắm.

Nhưng ta ngủ không được.

Ngủ không được.

Ta suy nghĩ kia bàn băng từ.

Kia bàn băng từ.

Nó ở nàng ám phòng trong ngăn kéo.

Ám phòng.

Ngăn kéo.

Khóa.

Khóa.

Chờ ta tới nghe.

Chờ ta tới nghe ——

Ngày mai.

Ngày mai.

Ta sẽ nghe.

Sẽ.

Ngày mai.