Chương 122: bờ sông

Đi rồi ba ngày. Đi đến một cái bờ sông.

Hà —— không khoan. Khoan đến đứng ở bên này có thể nhìn đến bờ bên kia thảo. Thảo cùng bên này giống nhau —— lùn. Lùn đến giống không trường. Nhưng thảo nhan sắc không giống nhau. Bên này thảo —— lục. Lục đến phát ám. Ám đến giống ở màu xám trên đời này nghẹn. Bờ bên kia thảo —— hoàng. Hoàng đến giống khô. Nhưng —— không khô. Không khô đến hoàng thảo căn vẫn là lục. Căn lá xanh hoàng —— Thẩm thường xuyên thấy được. Nhìn đến nguyên nhân —— hắn ký lục phích.

“Thủy —— “A Man chạy tới bờ sông. Chạy đến thời điểm nàng giày rơm ở bãi sông thượng trượt một chút. Hoạt đến nàng ngồi xổm xuống —— tay vói vào trong nước. Thủy —— lạnh. Lạnh đến tay nàng rụt một chút. Nhưng không có toàn súc. Rụt lại duỗi thân trở về.

“Lạnh. “Nàng nói. “So đá xanh trấn thủy lạnh. Đá xanh trấn thủy —— ôn. Nơi này thủy —— lạnh. Lạnh tới tay đầu ngón tay đã tê rần. “

“Nước biển gần. “Thẩm thường xuyên đi đến bờ sông. Hắn ngồi xổm xuống —— tay vói vào trong nước. Thủy —— lạnh. Lạnh đến cùng A Man nói giống nhau. Nhưng —— lạnh phương thức không giống nhau. A Man lạnh nơi tay đầu ngón tay. Thẩm thường xuyên lạnh ở —— vết sẹo. Vết sẹo đụng tới thủy —— không năng. Không năng đến giống bị đè lại. Đè lại vết sẹo đồ vật —— thủy. Trong nước có linh lực. Linh lực phương hướng —— đông. Đông —— hải.

“Trong nước linh lực —— hướng chảy về hướng đông. “

“Ân. “Đạo cô đi đến bờ sông. Nàng đạo bào —— hôi bố. Hôi bố thượng không có văn. Nàng ngồi xổm xuống. Tay không có vói vào trong nước. Tay nàng ở phía trên mặt nước —— ngừng. Đình thời điểm tay nàng ở run. Run phương thức —— không phải lãnh. Là —— sợ. Sợ đến tay nàng lùi về đạo bào trong tay áo.

“Làm sao vậy? “Diệp sương hỏi. Nàng đứng ở bờ sông —— kiếm ở bối thượng. Bối kiếm phương thức cùng trước kia không giống nhau. Trước kia kiếm ở trên eo. Hiện tại ở bối thượng. Bối đến chuôi kiếm từ vai phải lộ ra tới. Lộ ra tới phương thức —— giống tùy thời có thể rút.

“Trong nước —— có cái gì. “Đạo cô nói. Thanh âm —— nhẹ. Nhẹ đến giống sợ thủy nghe được. “Không phải linh lực. Là —— bóng dáng. “

“Bóng dáng? “

“Đáy nước. Đáy nước có bóng dáng. Bóng dáng —— ở động. “

Thẩm thường xuyên vết sẹo —— ôn. Ôn đến không năng. Nhưng ôn phương hướng —— thay đổi. Biến đến hướng dưới nước. Dưới nước ôn —— không phải linh lực. Là —— cái gì những thứ khác.

“Giặt quần áo. “A Man đem đạo bào tay áo cuốn lên tới. Cuốn đến khuỷu tay bộ. Cuốn xong lúc sau nàng từ chu hàn trong tay tiếp một túi lương khô —— lương khô túi là bố. Túi —— ô uế. Dơ đến mặt trên có lương khô tra cùng bùn đất. Nàng đem túi tẩm đến trong nước —— tẩm đến túi toàn ướt. Sau đó xoa. Xoa phương thức —— dùng sức. Dùng sức đến túi ở trong nước “Bạch bạch “Vang.

Xoa 30 tức. Túi —— sạch sẽ. Sạch sẽ đến bố nhan sắc ra tới. Bố nhan sắc —— hôi. Hôi đến cùng đạo cô đạo bào giống nhau.

“Ngươi quần áo cũng ô uế. “A Man ngẩng đầu xem diệp sương. Diệp sương quần áo —— hôi bố. Hôi bố thượng —— bùn. Bùn từ vạn vật các thềm đá thượng dính. Dính vào vạt áo thượng một vòng hắc.

“Không cần —— “Diệp sương nói không có nói xong. A Man đã ngồi xổm nàng bên chân —— tay duỗi tới rồi diệp sương vạt áo. Túm một đoạn. Túm đến vạt áo tẩm tới rồi trong nước. Tẩm đến trong nước —— xoa.

Xoa thời điểm diệp sương không có động. Nàng đứng ở nơi đó —— làm A Man xoa. Xoa đến vạt áo thượng bùn —— hóa. Hóa đến trong nước. Trong nước bùn —— tán. Tán đến nước sông thay đổi một đoạn nhan sắc.

Sau đó —— A Man tay ngừng.

Đình phương thức —— không bình thường. Không bình thường đến tay nàng ở trong nước bất động. Bất động đến tay nàng chỉ —— cương. Cương đến Thẩm thường xuyên thấy được.

“A Man? “

“Xoa phá —— “A Man bắt tay từ trong nước rút ra. Rút ra thời điểm —— tay nàng chỉ thượng. Bố —— phá. Bố phá một tiểu khối. Một tiểu khối bố —— ở trong nước phiêu. Bay tới bị nước sông hướng đi rồi.

Nhưng —— A Man xem không phải bố. Nàng xem chính là ngón tay. Ngón tay thượng —— không có thương tổn. Nhưng ngón tay dính một tầng đồ vật. Đồ vật —— hắc. Hắc đến ở nước sông —— giống mặc.

“Trong nước có —— “A Man thanh âm thay đổi. Biến đến đệ nhị loại âm sắc. Cục đá nghiền cục đá. “Bóng dáng. Đáy nước có bóng dáng. Bóng dáng —— ở hướng ngón tay của ta thượng bò. “

Thẩm thường xuyên vết sẹo —— năng. Năng đến từ ôn biến thành năng. Năng phương hướng —— dưới nước.

Hắn ngồi xổm xuống —— xem thủy. Thủy —— thanh. Thanh đến có thể nhìn đến đáy sông. Đáy sông —— cục đá. Trên cục đá —— rêu. Rêu là hắc. Hắc rêu cùng vạn vật các thềm đá thượng hắc rêu giống nhau.

Hắc rêu ở động.

Động phương hướng —— từ trên cục đá hướng mặt nước đi. Đi đến mặt nước —— đụng tới A Man ngón tay. Đụng tới thời điểm —— hắc rêu —— bò. Bò đến A Man ngón tay thượng.

“Khởi tay. “Thẩm thường xuyên kéo A Man một phen. Kéo đến nàng sau này lui hai bước. Thối lui đến ly thủy ba thước.

Hắc rêu —— ở A Man ngón tay thượng. Bò đến đầu ngón tay —— ngừng. Ngừng tam tức. Sau đó —— từ đầu ngón tay thượng —— rớt. Rớt đến trên mặt đất. Rớt đến trên mặt đất —— ở thảo thượng bò. Bò ba tấc —— đã chết. Chết đến bất động. Bất động đến giống làm giống nhau.

“Vạn vật các bóng dáng —— lui. Nhưng —— đường sông có. “Thẩm thường xuyên nhìn thoáng qua hà. Đáy sông trên cục đá —— hắc rêu. Rêu ở động. Động phương thức —— từ cục đá hướng mặt nước bò. “Đường sông —— liền đến hải. Trong biển —— “

“Trong biển bóng dáng —— từ đường sông lên đây. “Đạo cô nói. Tay nàng ở trong tay áo. Không có vươn tới. Tay ở run. “Thứ 37 vị đi rồi —— nhưng bóng dáng của hắn không đi. Bóng dáng —— tan. Tán đến trong nước. Thủy —— thông đến hải. Hải —— thông đến đạo tràng. Đạo tràng —— còn ở. Đạo tràng cái khe —— còn mở ra. Cái khe mở ra —— bóng dáng hướng nơi này tới. “

“Bóng dáng —— là ôn dịch. “Diệp sương kiếm từ bối thượng giải. Giải đến cầm ở trong tay. Thân kiếm thượng —— mỏng sương. Mỏng sương ở màu xám trong không khí —— lam. Lam đến giống một cây băng trụ.

“Bóng dáng chạm vào người —— hướng người bên trong toản. Chui —— người biến vỏ rỗng. “Thẩm thường xuyên đi đến bờ sông. Ngồi xổm ly thủy ba thước. Hắn vết sẹo —— năng. Năng đến từ dưới nước hướng trên người hắn bò. Bò đến hắn tay phải —— thạch hóa bộ phận. Thạch hóa đụng tới bóng dáng —— bóng dáng tán. Tán đến —— cùng ở vạn vật các thềm đá thượng giống nhau.

“Tay của ta —— có thể chạm vào bóng dáng. Thạch hóa —— không sợ. “

“Ngươi một người —— đụng tới thủy liền tán? Toàn bộ hà —— “Chìm trong thuyền đi đến bờ sông. Hắn đao ở trên eo. Đao khí —— từ thân đao thượng chảy ra. Thấm đến trong không khí. Trong không khí đao khí —— đụng tới mặt nước hắc rêu —— hắc rêu rụt. Súc đến trên cục đá.

“Đao khí có thể đuổi. Nhưng —— đuổi không tịnh. “

“Vậy —— vòng. “Chìm trong thuyền nhìn thoáng qua hà. Hà —— không khoan. Nhưng khoan đến —— không có kiều. “Vòng đến thượng du. Thượng du —— nước cạn. Thiển đến có thể dẫm lên cục đá quá. “

“Đi lên du —— rất xa? “

“Nửa ngày. “

“Nửa ngày —— đi. “

Sáu cá nhân dọc theo hà hướng lên trên đi. Đi rồi nửa dặm —— hà hẹp. Hẹp đến một cục đá là có thể nhảy qua đi. Cục đá ở giữa sông gian. Trên cục đá —— không có hắc rêu. Sạch sẽ đến cục đá là màu xám. Hôi đến giống bị tẩy quá.

Thẩm thường xuyên nhảy. Nhảy đến trên cục đá —— cục đá ổn. Ổn đến không hoảng hốt. Hắn từ trên cục đá nhảy đến bờ bên kia —— lạc. Lạc thời điểm hắn chân phải —— dẫm tới rồi thảo. Thảo —— hoàng. Hoàng đến cùng bên này lục không giống nhau.

“Bờ bên kia thảo —— hoàng. “Hắn nói.

“Khô? “Chu hàn hỏi. Hắn khiêng lương khô —— hai túi. Khiêng đến bờ bên kia thời điểm hắn chân đạp lên hoàng thảo thượng. Dẫm đến thảo —— nát. Toái đến thảo không phải thảo. Thảo biến thành —— phấn. Phấn từ đế giày hướng lên trên phiêu. Bay tới hắn ống quần thượng.

“Không phải khô. “A Man ngồi xổm xuống. Ngồi xổm hoàng thảo bên cạnh. Tay nàng chạm vào một chút hoàng thảo —— hoàng thảo nát. Toái đến tay nàng chỉ còn phấn. Phấn —— hoàng. Hoàng đến giống phấn hoa. “Thảo —— đã chết. Chết phương thức không giống khô. Khô là từ tiêm hướng căn. Cái này —— từ căn hướng tiêm. Căn —— chết trước. Căn đã chết —— thảo còn lục. Lục đến lá cây còn có thủy. Thủy —— đã không có căn. Không có căn —— thủy ra không được. Ra không được —— lá cây từ lục biến hoàng. “

“Căn vì cái gì đã chết? “

A Man đem trong tay phấn —— phóng tới cái mũi phía dưới. Nghe thấy một chút. Nghe thời điểm nàng cánh mũi ở động. Động phương thức —— cùng cẩu giống nhau.

“Thủy. “Nàng nói. “Căn đụng tới thủy —— có độc. Độc —— cùng đường sông hắc rêu giống nhau. “

“Hắc rêu —— đã thấm đến ngầm. Ngầm —— bộ rễ. Bộ rễ —— hút thủy. Hút mang hắc rêu thủy. Hắc rêu —— ở thảo căn. Thảo căn đã chết. “

Sáu cá nhân đứng ở bờ bên kia. Bờ bên kia —— hoàng thảo. Hoàng thảo từ bờ sông hướng bốn phương tám hướng phô. Phô đến tầm nhìn tất cả đều là hoàng. Hoàng đến giống mùa thu. Nhưng —— không phải mùa thu. Là bảy tháng. Bảy tháng thảo —— hẳn là lục.

Thẩm thường xuyên vết sẹo —— ôn. Ôn đến không năng. Nhưng ôn phương hướng —— đông. Đông —— hải.

Hải —— không xa.

“Đi. “Hắn đi ở phía trước. Đi ở hoàng thảo thượng. Mỗi đi một bước —— dưới chân hoàng thảo toái. Toái đến phấn hướng tứ phía phiêu. Bay tới hắn ống quần thượng. Ống quần —— thất bại.

Đi rồi nửa dặm. Nửa dặm lúc sau —— hoàng thảo đã không có. Thảo biến trở về lục. Lục thảo —— lùn. Lùn đến cùng phía trước giống nhau.

Phân giới.

Hoàng thảo cùng cỏ xanh chi gian —— một cái tuyến. Tuyến thẳng. Thẳng đến giống có người họa. Họa tuyến —— từ bắc hướng nam. Tuyến phía tây —— cỏ xanh. Tuyến phía đông —— hoàng thảo.

“Này tuyến —— “Thẩm thường xuyên ngồi xổm xuống. Ngồi xổm tuyến thượng. Tuyến vị trí —— bùn đất. Bùn đất nhan sắc không giống nhau. Tuyến tây —— thổ là cây cọ. Tuyến đông —— thổ là hôi. Hôi đến giống bị thiêu quá.

“Đường sông hắc rêu —— thấm đến ngầm. Nước ngầm —— hướng chảy về hướng đông. Chảy tới nào —— nào thảo căn chết. Chết đến thảo hoàng. “Hắn đứng lên. “Này tuyến —— là hắc rêu thấm đến ngầm biên giới. Tuyến đông —— nước ngầm bị ô nhiễm. Tuyến tây —— không có. “

“Ô nhiễm —— sẽ khuếch tán sao? “Diệp sương hỏi.

“Sẽ. “A Man đi đến hoàng thảo bên cạnh. Bên cạnh —— hoàng cùng lục chạm vào ở bên nhau. Chạm vào vị trí —— thảo nhan sắc là hoàng lục. Hoàng lục đến giống ở quá độ. Quá độ phương hướng —— hướng tây. Hướng tây —— cỏ xanh bên cạnh cũng ở biến hoàng. “Mỗi ngày —— hướng tây đẩy một tấc. Một tấc —— không nhiều lắm. Nhưng —— một tháng. Một tháng chính là 30 tấc. 30 tấc —— ba trượng. Ba trượng thảo —— đã chết. “

“Một tháng ba trượng. Một năm —— 36 trượng. “Thẩm thường xuyên vết sẹo ở nhảy. Nhảy phương thức —— cùng tim đập giống nhau.

“Hắc rêu —— từ trong biển tới. Trong biển hắc rêu —— từ đạo tràng tới. Đạo tràng —— không phong —— hắc rêu không tiêu tan. “

“Đi đạo tràng. “Chìm trong thuyền nói.

“Đi đạo tràng. “

Sáu cá nhân hướng đông đi. Đi ở cỏ xanh thượng. Cỏ xanh thượng —— dưới chân xúc cảm cùng hoàng thảo không giống nhau. Cỏ xanh —— mềm. Mềm đến chân dẫm đi xuống —— đạn. Đạn đến giống đi ở bông thượng.

“Qua sông thời điểm —— “Chu hàn đi đến Thẩm thường xuyên bên cạnh. Hắn khiêng lương khô. Khiêng đến bả vai oai. Oai đến hắn thay đổi vai —— từ vai trái đổi đến vai phải. “Chúng ta phân lương khô. Lương khô —— đủ ăn bảy ngày. Bảy ngày —— đến bờ biển? “

“Đủ. “

“Đến bờ biển —— tìm thuyền. Thuyền —— có sao? “

“Làng chài có. “

“Tiền đâu? “

“Không có tiền. “

Chu hàn —— cười. Cười phương thức không lớn. Lớn đến khóe miệng oai một chút. Oai đến cùng chìm trong thuyền chém giá cười giống nhau.

“Không có tiền —— trộm? “

“Không trộm. Giúp ngư dân —— làm việc. Làm việc đổi thuyền. “

“Làm —— cái gì sống? “

“Tới rồi sẽ biết. “

Chu hàn không có hỏi lại. Hắn đem lương khô túi đổi về vai trái. Đổi thời điểm hắn eo —— lại oai. Oai đến cùng phía trước giống nhau.

Đi rồi nửa ngày. Đi đến trời tối phía trước —— thấy được một cái thôn. Trong thôn —— khói bếp. Yên từ trên nóc nhà phiêu. Bay tới màu xám trên đời này —— tán. Tán đến nhìn không thấy.

Thôn tên —— không biết. Cửa thôn thẻ bài thượng —— tự. Tự bị phong quát đến thấy không rõ. Thấy không rõ đến chỉ còn một cái thiên bàng. Thiên bàng —— tam điểm thủy.

Thủy.

Thôn ở thủy biên. Thủy biên —— có thuyền. Thuyền —— ở trên bờ. Trên bờ thuyền —— đế hướng lên trời. Đế hướng lên trời đến thuyền ở phơi. Phơi đến đáy thuyền tấm ván gỗ —— trắng bệch. Bạch đến giống xương cốt.

“Làng chài. “Thẩm thường xuyên nói.

Hắn đứng ở cửa thôn. Trạm thời điểm hắn vết sẹo —— ôn. Ôn đến không năng. Ôn phương hướng —— đông. Đông —— hải.

Hải thanh âm —— gần. Gần đến không cần nhắm mắt là có thể nghe được. Thủy triều chụp ngạn. Chụp một chút. Đình một chút. Chụp một chút. Đình một chút.

Triều —— cùng tim đập giống nhau.

Hắn hướng trong thôn đi. Đi rồi ba bước. Ngừng.

Trong thôn —— an tĩnh. An tĩnh đến không có thanh âm. Không có cẩu kêu. Không có tiếng người. Không có hài tử chạy. Chỉ có —— yên. Yên ở phiêu.

Bay tới —— hắn nghe thấy được hương vị. Hương vị —— cá. Cá ở nấu. Nấu đến —— lạn. Lạn đến cá hương vị từ ngọt biến thành tiêu.

“Không ai? “Chìm trong thuyền đao ở trên eo. Đao khí —— thấm. Thấm đến trong không khí.

Thẩm thường xuyên nhìn thoáng qua khói bếp. Khói bếp —— từ nhất phía đông nóc nhà. Nhất phía đông nóc nhà —— dựa thủy. Thủy biên —— thuyền.

“Có người. Ở nhất phía đông. “

Bọn họ hướng trong thôn đi. Đi rồi hai mươi bước. Đi rồi hai mươi bước thời điểm —— ven đường môn. Môn —— mở ra. Chạy đến trong môn mặt —— không. Trống không trong phòng —— cái bàn. Trên bàn có chén. Trong chén có cơm. Cơm —— lạnh. Lạnh đến mặt ngoài kết một tầng xác. Xác —— hôi. Hôi đến giống cục đá.

Chén bên cạnh —— chiếc đũa. Chiếc đũa —— trên mặt đất. Trên mặt đất đến thuyết minh ăn một nửa. Ăn một nửa —— chén buông xuống. Chiếc đũa rớt. Người —— đi rồi.

“Đi rồi —— bao lâu? “Diệp sương ngồi xổm cái bàn bên cạnh. Tay chạm vào một chút chén. Chén —— lạnh. Lạnh đến cùng không khí một cái độ ấm. “Ít nhất nửa ngày. “

Đi rồi hai mươi bước —— lại một nhà. Môn —— đóng lại. Quan đến trên cửa —— khóa. Khóa —— cũ. Cũ đến khóa lại dài quá một tầng lục rỉ sắt. Lục rỉ sắt thuyết minh —— khóa thật lâu. So thượng một nhà lâu.

“Có đi rồi. Có không đi. “Thẩm thường xuyên đi đến nhất phía đông. Nhất phía đông —— nóc nhà. Khói bếp từ nơi này phiêu. Bay tới —— hắn nghe thấy được mùi khét. Tiêu —— cá. Cá ở nấu. Nấu đến tiêu.

Môn —— mở ra.

Hắn đi vào đi.

Bếp thượng —— nồi. Nồi ở hỏa thượng. Hỏa —— nhỏ. Nhỏ đến chỉ còn than. Than ở đáy nồi hạ —— hồng. Hồng đến ám. Ám đến sắp diệt.

Nồi —— khai. Chạy đến thủy ở mạo phao. Phao —— tiểu. Nhỏ đến thủy mau làm.

Trong nồi có cá. Cá —— tiêu. Tiêu đến da cá dính vào đáy nồi thượng. Đáy nồi —— hắc. Hắc đến cùng vạn vật các hắc rêu giống nhau.

Bếp bên cạnh —— ghế dựa. Trên ghế —— có người.

Người —— ngồi. Tay đặt ở đầu gối. Đầu —— thấp. Thấp đến cằm dán ngực.

Thẩm thường xuyên vết sẹo —— ôn. Ôn đến không năng.

“Lão nhân gia —— “Hắn kêu một tiếng.

Người —— không có động.

“Lão nhân gia —— cá tiêu. “

Người —— không có động.

Thẩm thường xuyên đi đến người trước mặt. Ngồi xổm xuống. Tay duỗi đến người cái mũi phía dưới —— thăm. Tìm được —— không có khí.

Người —— đã chết.

Chết phương thức —— ngồi. Tay đặt ở đầu gối. Đầu thấp. Thấp đến như đang ngủ. Nhưng —— mặt. Trên mặt —— cái gì đều không có. Không có biểu tình. Không có nếp nhăn. Không có sẹo. Mặt —— bình. Bình đến giống một trương giấy trắng.

Giấy trắng —— cùng vạn vật các giấy trắng mặt nữ nhân mặt —— giống nhau.

“Vỏ rỗng. “A Man đứng ở cửa. Nàng thanh âm —— đệ nhị loại âm sắc. Cục đá nghiền cục đá. “Bóng dáng —— chui vào đi. Chui vào đi —— người không. Không —— ngồi. Ngồi —— đã chết. Chết đến không biết chính mình đã chết. “

“Đã bao lâu? “

“Nửa ngày. “

“Hắn nấu cá —— còn ở bếp thượng. “

“Hắn nấu nấu —— bóng dáng tới. Tới —— chui. Chui —— hắn ngồi xuống. Ngồi xuống —— không lên. Không lên —— cá tiêu. Tiêu —— hỏa diệt. Diệt —— hắn đã chết. “

Thẩm thường xuyên đứng lên. Hắn nhìn thoáng qua bếp. Bếp thượng —— nồi. Trong nồi —— cá. Cá —— tiêu đến hắc.

Bếp bên cạnh trên bàn —— chén. Chén bên cạnh —— chiếc đũa. Chiếc đũa —— hai song. Hai đôi đũa thuyết minh —— hắn nấu hai người phân.

Một người khác —— ở đâu?

Ngoài cửa truyền đến thanh âm. Thanh âm —— từ thủy biên tới. Thủy biên —— thuyền. Thuyền bên cạnh —— có người.

Không phải một người. Là một đám người. Một đám người —— đứng ở thủy biên. Đứng —— bất động. Bất động đến giống cọc.

Cọc —— mặt triều thủy. Thủy —— đông. Đông —— hải.

Thẩm thường xuyên đi tới cửa. Thấy được.

Làng chài người —— tất cả tại thủy biên đứng. Mặt nhắm hướng đông. Mặt triều hải. Bất động. Không nói lời nào. Giống —— chờ cái gì.

Chờ cái gì —— từ trên biển tới.