Tần cơ tự mở ra cốt thư. Trang lót nội sườn trồi lên một đạo tân ngân. Phương hướng cùng chén đế ảnh ngược kia đạo dựng ngân tương phản.
Long năm hữu ngón trỏ khấu kiều mặt. Liền khấu.
“Vực ngoại có người.”
Tần cơ tự ngón tay ấn ở tân ngân thượng. “Ở viết cái gì.”
Long năm không trợn mắt. “Viết ‘ sưởng ’. Phương hướng phản. Kiều danh tạc qua đi ngày đó, đối diện để lại một đạo dấu vết. Hiện tại có người ở dấu vết bên cạnh viết cái thứ hai tự.”
Hắn mở mắt ra. Đồng tử chỗ sâu trong kia đạo túng tuyến nứt đến bên cạnh.
“Vực ngoại tại đáp lại đầu tài lệnh. Bắt đầu viết.”
Tần cơ tự đem chén đoan đến giếng duyên biên. Dựng ngân bên nhiều một đạo hoành. Từ hữu hướng tả.
Vực ngoại viết phản “Sưởng”, mặt nước hiện ra chính. Chiết khấu.
Ngón tay kia không đình. Mỗi một tấc đều ổn.
A Quý tai trái thiên. “Nó tim đập phản.”
Tần cơ tự ngón tay ấn ở cốt thư trang lót mặt trái. “Vực ngoại kia đoan chếch đi phương hướng tương phản, hô hấp thay đổi khi thiên một phút chốc, nó trước thiên, lại trở lại bình thường. Cùng cái tần suất. Tướng vị phản.”
Long năm hữu ngón trỏ khấu đầu gối. “Nó ở dùng chính mình tim đập mô phỏng kiều mặt tim đập ảnh ngược.”
Vưu 〇 đi đến giếng duyên trước. Mặt nước hạ phản “Sưởng” đã viết tam bút. Đặt bút phương hướng toàn phản.
Tần cơ tự ngón tay điểm ở chén duyên thượng. “Thủy nhân quả mật độ ở xoay ngược lại. Viết xong tức chiết khấu. Kiều mặt không thiết môn, ảnh ngược cũng không thiết môn. Vực ngoại đồ vật từ ảnh ngược thượng kiều.”
Vưu 〇 đem chén gác ở giếng duyên thượng. Khấu.
“Đầu tài lệnh đệ tam tắc.”
“Vực ngoại ảnh ngược. Sưởng. Ai đến cũng không cự tuyệt.”
·
Phán quyết giấy nằm xoài trên trên bàn. Chữ thập tự liên phía dưới trồi lên thứ 11 cái tự.
“Nghênh”.
Mặt trái trồi lên một hàng màu chàm chữ nhỏ: “Đầu tài lệnh đệ tam tắc: Vực ngoại ảnh ngược. Sưởng. Ai đến cũng không cự tuyệt. Chấp hành thân phê.”
Trực tiếp có hiệu lực.
Phán quyết • tam đi tới cửa, không có vào. Đứng trong chốc lát. Xoay người. Tiếng bước chân một bậc một bậc đi xuống.
Thềm đá thượng, khóa • hành đoạn trong suốt dấu chân bên cạnh nhiều một đạo hoành tuyến.
·
Vực ngoại ảnh ngược, phản “Sưởng” viết đến thứ 6 bút. Ngón tay dừng lại. Tài lệnh đã hạ.
Mặt nước sóng gợn từ dựng ngân cuối ra bên ngoài khoách, đụng tới giếng duyên nội sườn đạn trở về, ở ảnh ngược ở giữa giao hội. Giao hội chỗ trồi lên một bàn tay: Năm ngón tay khẽ nhếch, treo ở thứ 6 bút bên cạnh.
Tiếp tục. Viết xong thứ 9 bút.
Hai chữ song song. Kiều mặt xiềng xích trong khung, mặt nước ảnh ngược chỗ sâu trong. Cảnh trong gương chiết khấu.
·
Tần cơ tự khép lại cốt thư.
Đêm trắng lòng bàn tay hạ, chấn phúc chuyển hướng, từ khung cửa nội sườn đi ra ngoài. Vực ngoại cái tay kia thu hồi đi. Thối lui đến chỗ sâu trong.
A Quý tai trái thiên. “Sưởng tự viết xong. Cửa mở. Lần sau tới, trước gõ cửa. Ảnh ngược gõ.”
Long năm hữu ngón trỏ trở xuống trên đầu gối.
“6000 năm trước kiều toái, chấn đi ra ngoài bộ phận ở vực ngoại ngưng tụ thành ngân. Đợi 6000 năm, tim đập truyền qua đi. Bắt đầu viết hồi âm.” Hắn đốn nửa tức. “Đệ nhất phong thư: Sưởng. Đệ nhị phong còn không có viết.”
Vưu 〇 đoan chén. Uống một ngụm. Chén đế khấu giếng duyên.
Ngân trầm tiến nhân quả chỗ sâu trong. Ảnh ngược không trầm. Phản “Sưởng” nổi tại mặt nước. Chếch đi phương hướng tương phản.
Tư hành đang nghe.
Kiều mặt tim đập chếch đi, ảnh ngược tim đập phản chếch đi, cùng tần suất cho nhau vòng chuyển.
( chương 35 ● xong )
